Truyền thống Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Đất rừng phương Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Thị Hương
Ngày gửi: 19h:12' 15-11-2024
Dung lượng: 282.4 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Thị Hương
Ngày gửi: 19h:12' 15-11-2024
Dung lượng: 282.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Chủ đề tháng: Đất nước – Con người
ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM
Đoàn Giỏi
Kính thưa các thầy cô giáo và các em học sinh yêu quý!
Thư viện xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc ấn phẩm “Đất rừng phương
Nam” của Đoàn Giỏi do nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành năm 2019 với 303 trang,
khổ 14,5 x 20,5 cm.
"Đất rừng phương Nam" của Đoàn Giỏi như một xã hội của miền sông
nước Tây Nam bộ thu nhỏ. Bởi ở nơi đó, người đọc đã tìm thấy hình ảnh người dân
của vùng đất phương Nam từ sông Tiền, sông Hậu trải dài đến Kiên Giang - Rạch
Giá, rồi xuống tận rừng U Minh, sau đó dừng lại ở Năm Căn Cà Mau.
Bối cảnh trong "Đất rừng phương Nam" là cả một đất trời thiên nhiên ưu đãi,
cánh đồng bát ngát mênh mông, sóng nước rì rầm, rừng rậm bạt ngàn trù phú, thú
rừng hoang dã muôn loài... Có thể nói truyện đã mang đến cho người đọc nhiều thú
vị.
Tóm tắt nội dung:
Cậu bé Nguyễn An sống cùng với cha mẹ tại thành phố những ngày sau ngày độc
lập 2/9/1945. Thực dân Pháp quay lại xâm lược Việt Nam, đổ quân vào Nam Bộ.
Pháp mở những trận đánh khiến cho những người dân sống tại thành thị phải di tản.
An và ba mẹ cũng phải bỏ nhà bỏ cửa để chạy giặc. Cậu nhớ đến một anh bạn đi tàu
đã tặng cậu chiếc la bàn mà không kịp mang theo.
Theo cha mẹ chạy hết từ vùng này tới vùng khác của miền Tây Nam Bộ. An kết
bạn cùng với những đứa trẻ cùng trang lứa và có cuộc sống tuổi thơ vùng nông
thôn đầy êm đềm. Nhưng cứ vừa ổn định được mấy bữa thì giặc đánh tới nơi và lại
phải chạy. Trong một lần mải chơi, giặc đánh đến và An đã lạc mất gia đình. Cậu
trở thành đứa trẻ lang thang.
Ở nơi chợ búa này cậu gặp những người đầu tiên cứu mạng mình. Dì Tư béo bảo
cậu về làm giúp cho quán ăn của dì. Thế là từ đó, cậu có nơi nương tựa, không còn
phải chịu cảnh đói khổ qua ngày. Tại quán ăn dì Tư béo, An có cơ hội tiếp xúc với
nhiều người: anh Sáu tuyên truyền, những anh bộ đội, những kẻ Việt gian bán nước
như vợ chồng Tư Mắm, những người nông dân chân chất như lão Ba Ngù...
Vợ chồng Tư Mắm làm nghề bán mắm dọc các con kênh rạch. Vợ Tư mắm là
người đàn bà rất xinh đẹp, bà ta muốn mua chuộc An làm tay sai. Một buổi tối, An
vô tình đọc được những dòng chữ tiếng Pháp viết trong cuốn sổ của vợ chồng Tư
Mắm. An biết rằng bọn họ là Việt gian. Khi họ hỏi, thì An đối đáp rất thông minh
rằng mình thấy nó đẹp mà chả hiểu gì. Nhưng dì Tư sau đó lại bảo rằng An biết tiếng
Pháp. Vì thế, An chạy trốn, hai vợ chồng Tư Mắm đốt cháy quán dì Tư rồi bỏ đi.
Dì Tư Béo định dẫn An lên Thới Bình sinh sống nhưng An đã quyết định ở lại và
tiếp tục cuộc sống không nơi nương tựa.
Ngày qua ngày khi sống trong cảnh thui thủi một mình An thường nhớ lại những
kỉ niệm về gia đình, về quê hương ngày xưa, lúc gia đình chạy giặc rồi lạc nhau.
Vào một đêm khuya vắng vẻ trong ngôi miếu ở xóm chợ, An bị cơn sốt dữ dội vật
nằm miên man và trong cơn sốt An mong muốn gặp Mẹ.
Cậu bé còn nhớ về cuộc gặp gỡ tình cờ với anh Ba thủy thủ. Cuộc nói chuyện đầy
thú vị của An với anh Ba về con chim cánh cụt ở Bắc Băng Dương.
Anh Ba còn tặng cho An một cái la bàn mà An cho rằng “từ khi cầm nó vào tay,
số mệnh đã khiến cho tôi phải rơi vào cuộc sống lênh đênh này chăng?”
Cơn sốt làm An thiếp đi lúc nào không hay. Khi tỉnh dậy cậu bé nhìn thấy chị cứu
thương và xung quanh mình là la liệt những thương binh. Bấy giờ cậu mới biết rằng
giặc Pháp bắt đầu tấn công vào vùng này từ sáng sớm. Đến khi các anh thương binh
được chuyển đi thì An định theo xuồng đưa các anh đi nhưng những ông cụ già bơi
xuồng không cho cậu theo.An lại tiếp tục đi.
Sau đó An gặp lại cha con ông lão bán rắn và Võ Tòng. An đã đi theo họ và trở
thành con nuôi của ông lão bán rắn, anh em của thằng Cò. Tía nuôi đã đưa An về
gặp má nuôi và từ đó An đã cùng họ sống trong “một mái lều nhỏ, tiều tụy, nép dưới
bóng cây tràm vỏ trắng phản chiếu ánh bình minh như tô phấn” nhưng đầy tình
thương.
Những ngày ở đây sống cùng với tía má nuôi An được nghe câu chuyện về cuộc
đời của tí má gian khổ và khó khăn như thế nào. Tuy là nghèo khó vất vả nhưng má
nuôi của An rất thương An coi cậu bé như đứa con ruột do mình sinh ra.
An còn được tía và thằng Cò dắt đi câu rắn, đi lấy mật ong và học được nhiều kinh
nghiệm, thấy nhiều điều mới lạ mà An chưa từng biết. Tía nuôi dắt An đi tới thăm
chú Võ Tòng. Chú đã trao cho tía nuôi của An chiếc nỏ và ống tên thuốc để đề phòng
giặc Pháp sẽ mò tới nơi.
Có hôm An và Tía nuôi đi lấy mật ong trong rừng, gặp phải máy bay địch thả bom
làm cháy cả khu rừng. Hai Tía con dắt nhau chạy tới khu vực xa nơi cháy, gần đầm
lầy.
Nghe xa xa có tiếng chim, hai Tía con leo lên cây sung. Rồi con hổ đến, An nhớ
đến những chuyện mà trước kia được mẹ kể về chuyện con hổ. Hai Tía con ở trong
rừng ba ngày mới về nhà.
Khi về tới thấy nhiều người tập trung ở ven sông thì mới biết Võ Tòng đã mất.
Qua lời kể của ông ba Ngù thì mới biết chuyện như thế nào.Ông bị bọn Việt gian
mua chuộc và ông đã kể cho Võ Tòng và ông chủ nhiệm thôn bộ nghe. Tức giận, Võ
Tòng đòi đi giết thằng Việt gian. Trong lần phục kích giặt trên cây Da, Võ Tòng đã
giết chết tên Việt gian và một tên lính ngụy. Nhưng cuối cùng Võ Tòng đã bị mụ Tư
Mắm chỉ điểm rồi bị tên tướng bắn chết.
Nghe được chuyện tía nuôi của An buồn lắm. Ông cứ đi sớm về muộn, âm thầm
tập luyện. Ông kêu An chỉ mụ Tư Mắm và biết được thói quen là thường đi tắm vào
buổi chiều. Nên ông đã núp dưới đám bèo và dùng nỏ bắn chết mụ. thời gian sau
bọn giặt phải lao đao nhiều lần vì ông.
Vì U Minh thượng đã bị giặc đóng chiếm và ngôi lều để ở của gia đình đã làm
mồi cho ngọn lửa của giặc Pháp nên gia đình tía má nuôi của An quyết định rời nơi
này và đi xuống vùng U Minh hạ sinh sống. Trước khi đi An và tía nuôi có ghé thăm
mộ của chú Võ Tòng để từ biệt.
Nơi đầu tiên dừng chân của gia đình An là phường cá sấu. Ở nơi này người ta
sống nhờ vào việc săn cá sấu, đây cũng là nghề cũ của tía nuôi An. Sau những lời
giới thiệu, lời mời hợp tác làm ăn, tía nuôi đã chấp nhận nhập phường. Hằng ngày,
những người đàn ông trong vùng bày trận để săn cá sấu về lấy da, lấy thịt bán. Nhưng
dạt vào xóm chài này chưa đầy ba tháng, họ lại trở về với cuộc sống lênh đênh.
Mấy hôm trước khi quyết định rời khỏi thì không may thằng bé Cò bị đau chân
do nọc độc của cá mặt quỷ khi lội đi bắt cá bống. Cả nhà đã đi tới sróc Miên,tía nuôi
“thay áo, bịt khan mới” dắt An lên chùa xin thuốc cho thằng Cò.
Xin thuốc xong, trước khi về, Lục cụ còn nói một câu đầy ý nghĩa : “Rừ xây
chòong cáp, bòong lá trrâu xca!”
Thuốc của Lục cụ cho thật thần kỳ, sau khi bôi thuốc và uống thuốc một lúc thì
thằng Cò đã ngồi dậy tỉnh như không, tía nuôi đã lên chùa lần nữa đền ơn cho Lục
cụ bằng một gói nanh cá sấu.
Rời khỏi sróc Miên, thuyền của họ đến ngang một cái chợ thì “hạ buồm”. Người
ta gọi chợ này là chợ Mặt Trời. Ở đây có 1 đặc điểm vô cùng thú vị là có rất nhiều
loài chim: chim trắng, chim đen, le le, sếu, cò…đặc biệt là chim điêng điểng mà An
chưa từng biết đến trước đây. Chợ đang nhóm thì máy bay giặc bay tới thả truyền
đơn gây nhốn nháo như vỡ đám làm cháy.
Vậy là thuyền của gia đình cứ xuôi theo dòng nước chèo đi, định đi về hướng
Năm Căn.
Chợ Năm Căn rất đông vui và tấp nập, có cái bề thế của một trấn “anh chị rừng
xanh”. Năm Căn hơn tất cả các xóm chợ vùng rừng Cà Mau.
An và thằng Cò xách chai ra bờ sông chờ thuyền trà vải đón mua dầu lửa. Bỗng
có một điều bất thường, người lớn lẫn trẻ con quây quanh cái xác con kỳ đà, vừa bị
người dân giết vì nó dám ăn cái xác người chết mới chôn. Nó to bằng cả chiếc xuồng
ba lá. Được thầy giáo Bảy giải thích cặn kẽ, mọi người cùng nhau xả thịt nó để ăn.
Tía nuôi An định cất nhà ở lại đây nhưng không lâu.
Ở đây, An gặp lại dì Tư Béo. Hai người trò chuyện hỏi thăm tình hình lẫn nhau.
Dì Tư nói chuyện qua loa rồi bỏ đi vì thất vọng không mua được mật con kỳ đà đó.
Dòng sông Năm Căn không còn ồn ào, huyên náo như trước nữa mà trở nên lạnh
ngắt, vắng teo. Bọn thằng Tây đến đóng đồn, “ruồng bố, càng quét”, truy bắt du kích
ta ra giết.
Cứ vài hôm lại có người lạ mặt có, người quen có tạt vào lều uống vài chén rượu
với tía nuôi An.
Sau cuộc nói chuyện đó, tía nuôi An “đứng rất lâu một mình ngoài bờ cỏ”, “ngồi
lặng lẽ hàng giờ bên đóng củi hun” rồi bỏ nhà đi luôn, chẳng rõ đi đâu.
Đi hai ba hôm mới về rồi đi tiếp mang theo “bao diêm, một cái xoomg nhôm và
hơn chục lít gạo”. Mỗi lần như thế thấy ông tỉnh táo và vui vẻ hơn trước.
Thấy vậy, An đoán là ông vào rừng với du kích nên dẫn con Luốc rình theo sau.
Bị phát hiện, tía nuôi An nhận ra An nên cho vào trong lều. Nhận ra người quen là
chú Huỳnh Tấn, An đưa luôn gói đồ mà má nuôi An gởi các anh du kích. Bên trong
chỉ là cuộn chỉ và cây kim khâu nhưng nó chứa đựng tình yêu của bà con ở đây với
du kích.
Trong lều có khá đông người gồm tía nuôi An, thầy giáo Bảy, ông già đốn củi, chú
Huỳnh Tấn và các anh du kích.
Mọi người nói chuyện với nhau vui vẻ và tranh luận về việc nên “hòa” hay “chiến”?
Trên bãi cỏ rộng giữa một khu rừng gần bờ sông, buổi lễ tuyên thệ của trung đội du
kích địa phương được bắt đầu từ chập tối. Tía nuôi An xin gửi gắm An theo các anh
du kích để giúp và cùng các anh trong việc đánh giặc. Đứng trước bàn thờ Tổ quốc,
ảnh Bác Hồ mọi người “cùng vung thẳng tay lên trời và hô rập “xin thề” vang vang
như một tiếng sét”.
Tía nuôi An giao cho An con dao mà suốt mấy năm qua luôn mang theo bên mình.
Trung đội du kích địa phương cử hành hát Quốc Ca trong bầu không khí vô cùng
trang nghiêm và xúc động.
Khung cảnh tiễn đưa đoàn du kích và An ra đi đánh giặc.
Nhiều năm trở lại đây cuốn tiểu thuyết nổi tiếng này được đưa vào tủ sách vàng
của nhiều nhà xuất bản, được in đi in lại nhiều lần.Tiểu thuyết Đất rừng phương
Nam được chuyển thể thành phim Đất phương Nam do Hãng phim Truyền hình
thành phố Hồ Chí Minh sản xuất năm 1997. Một trong nhiều tác phẩm được chuyển
thể thành phim.
Và cuối cùng tôi mong muốn rằng các bạn đừng quên đọc cuốn sách bổ ích
này nhé!
ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM
Đoàn Giỏi
Kính thưa các thầy cô giáo và các em học sinh yêu quý!
Thư viện xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc ấn phẩm “Đất rừng phương
Nam” của Đoàn Giỏi do nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành năm 2019 với 303 trang,
khổ 14,5 x 20,5 cm.
"Đất rừng phương Nam" của Đoàn Giỏi như một xã hội của miền sông
nước Tây Nam bộ thu nhỏ. Bởi ở nơi đó, người đọc đã tìm thấy hình ảnh người dân
của vùng đất phương Nam từ sông Tiền, sông Hậu trải dài đến Kiên Giang - Rạch
Giá, rồi xuống tận rừng U Minh, sau đó dừng lại ở Năm Căn Cà Mau.
Bối cảnh trong "Đất rừng phương Nam" là cả một đất trời thiên nhiên ưu đãi,
cánh đồng bát ngát mênh mông, sóng nước rì rầm, rừng rậm bạt ngàn trù phú, thú
rừng hoang dã muôn loài... Có thể nói truyện đã mang đến cho người đọc nhiều thú
vị.
Tóm tắt nội dung:
Cậu bé Nguyễn An sống cùng với cha mẹ tại thành phố những ngày sau ngày độc
lập 2/9/1945. Thực dân Pháp quay lại xâm lược Việt Nam, đổ quân vào Nam Bộ.
Pháp mở những trận đánh khiến cho những người dân sống tại thành thị phải di tản.
An và ba mẹ cũng phải bỏ nhà bỏ cửa để chạy giặc. Cậu nhớ đến một anh bạn đi tàu
đã tặng cậu chiếc la bàn mà không kịp mang theo.
Theo cha mẹ chạy hết từ vùng này tới vùng khác của miền Tây Nam Bộ. An kết
bạn cùng với những đứa trẻ cùng trang lứa và có cuộc sống tuổi thơ vùng nông
thôn đầy êm đềm. Nhưng cứ vừa ổn định được mấy bữa thì giặc đánh tới nơi và lại
phải chạy. Trong một lần mải chơi, giặc đánh đến và An đã lạc mất gia đình. Cậu
trở thành đứa trẻ lang thang.
Ở nơi chợ búa này cậu gặp những người đầu tiên cứu mạng mình. Dì Tư béo bảo
cậu về làm giúp cho quán ăn của dì. Thế là từ đó, cậu có nơi nương tựa, không còn
phải chịu cảnh đói khổ qua ngày. Tại quán ăn dì Tư béo, An có cơ hội tiếp xúc với
nhiều người: anh Sáu tuyên truyền, những anh bộ đội, những kẻ Việt gian bán nước
như vợ chồng Tư Mắm, những người nông dân chân chất như lão Ba Ngù...
Vợ chồng Tư Mắm làm nghề bán mắm dọc các con kênh rạch. Vợ Tư mắm là
người đàn bà rất xinh đẹp, bà ta muốn mua chuộc An làm tay sai. Một buổi tối, An
vô tình đọc được những dòng chữ tiếng Pháp viết trong cuốn sổ của vợ chồng Tư
Mắm. An biết rằng bọn họ là Việt gian. Khi họ hỏi, thì An đối đáp rất thông minh
rằng mình thấy nó đẹp mà chả hiểu gì. Nhưng dì Tư sau đó lại bảo rằng An biết tiếng
Pháp. Vì thế, An chạy trốn, hai vợ chồng Tư Mắm đốt cháy quán dì Tư rồi bỏ đi.
Dì Tư Béo định dẫn An lên Thới Bình sinh sống nhưng An đã quyết định ở lại và
tiếp tục cuộc sống không nơi nương tựa.
Ngày qua ngày khi sống trong cảnh thui thủi một mình An thường nhớ lại những
kỉ niệm về gia đình, về quê hương ngày xưa, lúc gia đình chạy giặc rồi lạc nhau.
Vào một đêm khuya vắng vẻ trong ngôi miếu ở xóm chợ, An bị cơn sốt dữ dội vật
nằm miên man và trong cơn sốt An mong muốn gặp Mẹ.
Cậu bé còn nhớ về cuộc gặp gỡ tình cờ với anh Ba thủy thủ. Cuộc nói chuyện đầy
thú vị của An với anh Ba về con chim cánh cụt ở Bắc Băng Dương.
Anh Ba còn tặng cho An một cái la bàn mà An cho rằng “từ khi cầm nó vào tay,
số mệnh đã khiến cho tôi phải rơi vào cuộc sống lênh đênh này chăng?”
Cơn sốt làm An thiếp đi lúc nào không hay. Khi tỉnh dậy cậu bé nhìn thấy chị cứu
thương và xung quanh mình là la liệt những thương binh. Bấy giờ cậu mới biết rằng
giặc Pháp bắt đầu tấn công vào vùng này từ sáng sớm. Đến khi các anh thương binh
được chuyển đi thì An định theo xuồng đưa các anh đi nhưng những ông cụ già bơi
xuồng không cho cậu theo.An lại tiếp tục đi.
Sau đó An gặp lại cha con ông lão bán rắn và Võ Tòng. An đã đi theo họ và trở
thành con nuôi của ông lão bán rắn, anh em của thằng Cò. Tía nuôi đã đưa An về
gặp má nuôi và từ đó An đã cùng họ sống trong “một mái lều nhỏ, tiều tụy, nép dưới
bóng cây tràm vỏ trắng phản chiếu ánh bình minh như tô phấn” nhưng đầy tình
thương.
Những ngày ở đây sống cùng với tía má nuôi An được nghe câu chuyện về cuộc
đời của tí má gian khổ và khó khăn như thế nào. Tuy là nghèo khó vất vả nhưng má
nuôi của An rất thương An coi cậu bé như đứa con ruột do mình sinh ra.
An còn được tía và thằng Cò dắt đi câu rắn, đi lấy mật ong và học được nhiều kinh
nghiệm, thấy nhiều điều mới lạ mà An chưa từng biết. Tía nuôi dắt An đi tới thăm
chú Võ Tòng. Chú đã trao cho tía nuôi của An chiếc nỏ và ống tên thuốc để đề phòng
giặc Pháp sẽ mò tới nơi.
Có hôm An và Tía nuôi đi lấy mật ong trong rừng, gặp phải máy bay địch thả bom
làm cháy cả khu rừng. Hai Tía con dắt nhau chạy tới khu vực xa nơi cháy, gần đầm
lầy.
Nghe xa xa có tiếng chim, hai Tía con leo lên cây sung. Rồi con hổ đến, An nhớ
đến những chuyện mà trước kia được mẹ kể về chuyện con hổ. Hai Tía con ở trong
rừng ba ngày mới về nhà.
Khi về tới thấy nhiều người tập trung ở ven sông thì mới biết Võ Tòng đã mất.
Qua lời kể của ông ba Ngù thì mới biết chuyện như thế nào.Ông bị bọn Việt gian
mua chuộc và ông đã kể cho Võ Tòng và ông chủ nhiệm thôn bộ nghe. Tức giận, Võ
Tòng đòi đi giết thằng Việt gian. Trong lần phục kích giặt trên cây Da, Võ Tòng đã
giết chết tên Việt gian và một tên lính ngụy. Nhưng cuối cùng Võ Tòng đã bị mụ Tư
Mắm chỉ điểm rồi bị tên tướng bắn chết.
Nghe được chuyện tía nuôi của An buồn lắm. Ông cứ đi sớm về muộn, âm thầm
tập luyện. Ông kêu An chỉ mụ Tư Mắm và biết được thói quen là thường đi tắm vào
buổi chiều. Nên ông đã núp dưới đám bèo và dùng nỏ bắn chết mụ. thời gian sau
bọn giặt phải lao đao nhiều lần vì ông.
Vì U Minh thượng đã bị giặc đóng chiếm và ngôi lều để ở của gia đình đã làm
mồi cho ngọn lửa của giặc Pháp nên gia đình tía má nuôi của An quyết định rời nơi
này và đi xuống vùng U Minh hạ sinh sống. Trước khi đi An và tía nuôi có ghé thăm
mộ của chú Võ Tòng để từ biệt.
Nơi đầu tiên dừng chân của gia đình An là phường cá sấu. Ở nơi này người ta
sống nhờ vào việc săn cá sấu, đây cũng là nghề cũ của tía nuôi An. Sau những lời
giới thiệu, lời mời hợp tác làm ăn, tía nuôi đã chấp nhận nhập phường. Hằng ngày,
những người đàn ông trong vùng bày trận để săn cá sấu về lấy da, lấy thịt bán. Nhưng
dạt vào xóm chài này chưa đầy ba tháng, họ lại trở về với cuộc sống lênh đênh.
Mấy hôm trước khi quyết định rời khỏi thì không may thằng bé Cò bị đau chân
do nọc độc của cá mặt quỷ khi lội đi bắt cá bống. Cả nhà đã đi tới sróc Miên,tía nuôi
“thay áo, bịt khan mới” dắt An lên chùa xin thuốc cho thằng Cò.
Xin thuốc xong, trước khi về, Lục cụ còn nói một câu đầy ý nghĩa : “Rừ xây
chòong cáp, bòong lá trrâu xca!”
Thuốc của Lục cụ cho thật thần kỳ, sau khi bôi thuốc và uống thuốc một lúc thì
thằng Cò đã ngồi dậy tỉnh như không, tía nuôi đã lên chùa lần nữa đền ơn cho Lục
cụ bằng một gói nanh cá sấu.
Rời khỏi sróc Miên, thuyền của họ đến ngang một cái chợ thì “hạ buồm”. Người
ta gọi chợ này là chợ Mặt Trời. Ở đây có 1 đặc điểm vô cùng thú vị là có rất nhiều
loài chim: chim trắng, chim đen, le le, sếu, cò…đặc biệt là chim điêng điểng mà An
chưa từng biết đến trước đây. Chợ đang nhóm thì máy bay giặc bay tới thả truyền
đơn gây nhốn nháo như vỡ đám làm cháy.
Vậy là thuyền của gia đình cứ xuôi theo dòng nước chèo đi, định đi về hướng
Năm Căn.
Chợ Năm Căn rất đông vui và tấp nập, có cái bề thế của một trấn “anh chị rừng
xanh”. Năm Căn hơn tất cả các xóm chợ vùng rừng Cà Mau.
An và thằng Cò xách chai ra bờ sông chờ thuyền trà vải đón mua dầu lửa. Bỗng
có một điều bất thường, người lớn lẫn trẻ con quây quanh cái xác con kỳ đà, vừa bị
người dân giết vì nó dám ăn cái xác người chết mới chôn. Nó to bằng cả chiếc xuồng
ba lá. Được thầy giáo Bảy giải thích cặn kẽ, mọi người cùng nhau xả thịt nó để ăn.
Tía nuôi An định cất nhà ở lại đây nhưng không lâu.
Ở đây, An gặp lại dì Tư Béo. Hai người trò chuyện hỏi thăm tình hình lẫn nhau.
Dì Tư nói chuyện qua loa rồi bỏ đi vì thất vọng không mua được mật con kỳ đà đó.
Dòng sông Năm Căn không còn ồn ào, huyên náo như trước nữa mà trở nên lạnh
ngắt, vắng teo. Bọn thằng Tây đến đóng đồn, “ruồng bố, càng quét”, truy bắt du kích
ta ra giết.
Cứ vài hôm lại có người lạ mặt có, người quen có tạt vào lều uống vài chén rượu
với tía nuôi An.
Sau cuộc nói chuyện đó, tía nuôi An “đứng rất lâu một mình ngoài bờ cỏ”, “ngồi
lặng lẽ hàng giờ bên đóng củi hun” rồi bỏ nhà đi luôn, chẳng rõ đi đâu.
Đi hai ba hôm mới về rồi đi tiếp mang theo “bao diêm, một cái xoomg nhôm và
hơn chục lít gạo”. Mỗi lần như thế thấy ông tỉnh táo và vui vẻ hơn trước.
Thấy vậy, An đoán là ông vào rừng với du kích nên dẫn con Luốc rình theo sau.
Bị phát hiện, tía nuôi An nhận ra An nên cho vào trong lều. Nhận ra người quen là
chú Huỳnh Tấn, An đưa luôn gói đồ mà má nuôi An gởi các anh du kích. Bên trong
chỉ là cuộn chỉ và cây kim khâu nhưng nó chứa đựng tình yêu của bà con ở đây với
du kích.
Trong lều có khá đông người gồm tía nuôi An, thầy giáo Bảy, ông già đốn củi, chú
Huỳnh Tấn và các anh du kích.
Mọi người nói chuyện với nhau vui vẻ và tranh luận về việc nên “hòa” hay “chiến”?
Trên bãi cỏ rộng giữa một khu rừng gần bờ sông, buổi lễ tuyên thệ của trung đội du
kích địa phương được bắt đầu từ chập tối. Tía nuôi An xin gửi gắm An theo các anh
du kích để giúp và cùng các anh trong việc đánh giặc. Đứng trước bàn thờ Tổ quốc,
ảnh Bác Hồ mọi người “cùng vung thẳng tay lên trời và hô rập “xin thề” vang vang
như một tiếng sét”.
Tía nuôi An giao cho An con dao mà suốt mấy năm qua luôn mang theo bên mình.
Trung đội du kích địa phương cử hành hát Quốc Ca trong bầu không khí vô cùng
trang nghiêm và xúc động.
Khung cảnh tiễn đưa đoàn du kích và An ra đi đánh giặc.
Nhiều năm trở lại đây cuốn tiểu thuyết nổi tiếng này được đưa vào tủ sách vàng
của nhiều nhà xuất bản, được in đi in lại nhiều lần.Tiểu thuyết Đất rừng phương
Nam được chuyển thể thành phim Đất phương Nam do Hãng phim Truyền hình
thành phố Hồ Chí Minh sản xuất năm 1997. Một trong nhiều tác phẩm được chuyển
thể thành phim.
Và cuối cùng tôi mong muốn rằng các bạn đừng quên đọc cuốn sách bổ ích
này nhé!
 






Các ý kiến mới nhất