Truyền thống Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Hành trình chữ viết

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Thị Hương
Ngày gửi: 19h:31' 16-11-2024
Dung lượng: 4.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Thị Hương
Ngày gửi: 19h:31' 16-11-2024
Dung lượng: 4.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
LỜI NÓI ĐẦU
* Chữ viết hình thành trước hay sau ngôn ngữ?
* Khi chưa có chữ viết, con người đã lưu giữ và truyền đạt thông tin với nhau như thế nào?
* Những bước quá độ để cho ra đời chữ viết đã hình thành ra sau?
* Vậy chữ viết ra đời cách đây bao nhiêu năm?
* Sự ra đời của bảng chữ cái như thế nào?
* Bảng chữ cái của người Hy Lạp ra sao?
* Bảng chữ cái của người Éturie và người La Mã ra sao?
* Bảng chữ cái La Tinh như thế nào?
* Bảng chữ cái Ả Rập ra sao?
* Có phải thời trung cổ, người ta dùng chữ viết để... chữa bệnh?
* Chữ hán của người Trung Quốc có từ bao giờ?
* Chữ Hán được cấu tạo theo sáu nguyên tắc gọi là “lục thư”. Vậy “lục thư” là gì?
* Cách viết chữ Hán tuân theo qui tắc nào?
* Có phải trên cùng một đất nước, nhưng người Trung Quốc không hẳn đã nói và viết giống nhau?
* Chữ Hán lớn nhất thế giới cuối thế kỷ XX được viết trong dịp nào? Ai viết?
* Cho biết định nghĩa nổi tiếng nhất về nghệ thuật Thư Pháp của người Trung Quốc?
* Bảng học vần của Hoa Kỳ do ai phát minh ra?
* Chữ Hán truyền vào Việt Nam từ lúc nào?
* Trên tiền đồng, tiền giấy đầu tiên của nước Việt Nam đã khắc và viết chữ gì?
* Các ấn tín dưới triều Nguyễn chứa những gì?
* Trước khi biết đến chữ Hán, có phải người Việt cổ đã có văn tự riêng?
* Tại sao ông cha ta sáng tạo ra chữ Nôm và giá trị ảnh hưởng của nó trong văn hóa nước nhà?
* Quyển tự điển xưa nhất bằng tiếng Nôm “Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa” nay còn lưu giữ được có phải
do
* Có phải bài thơ đuổi cá sấu do Hàn Thuyên viết dưới thời nhà Trần là có thật?
* Vấn đề cấu tạo chữ nôm như thế nào?
* Có phải giáo sư Phạm Huy Thông thời trẻ từng... sáng chế ra chữ nôm mới?
* Có phải chữ Nôm của người Việt nam đã được công nhận vào “bộ nhớ” quốc tế?
* Sự hình thành của chữ quốc ngữ như thế nào?
* Vậy A.de Rhodes không phải là ông tổ của chữ Quốc ngữ như lâu nay ta thường nghĩ?
* Toàn văn nội dung bia kỷ niệm Alexandre de Rhodes, phần bằng chữ Quốc ngữ đã được viết như thế
nào
* Cho biết một đoạn văn mà A.de Rhodes đã viết để thấy được chữ Quốc Ngữ giữa thế kỷ XVII?
* Từ quyển từ điển Việt - Bồ - La của A.de Rhodes in năm 1651, đến cuối thế kỷ XVIII chữ Quốc ngữ
lạ
* Sau đó, về chữ Quốc ngữ còn có công trình nghiên cứu nào đáng kể nữa không?
* Cho biết đôi nét về vấn đề cải cách chữ Quốc ngữ đã diễn ra lâu nay?
* Ý kiến của nhà ngôn ngữ học, GS Cao Xuân Hạo: “về cách viết tên riêng nước ngoài trên văn bản
tiến
* Cách đọc mẫu tự chữ Quốc ngữ có thay đổi hay không?
* Cách viết mẫu tự chữ quốc ngữ có thay đổi hay không?
* Từ khi có chữ viết, con người đã viết trên cái gì?
* Giấy da và giấy da bê đã xuất hiện vào thời gian nào?
* Khi phát minh ra giấy da và giấy da bê thì chữ viết ở đó có thay đổi không?
* Giấy ra đời từ bao giờ?
* Nghề làm giấy ở Việt Nam có từ bao giờ?
* Mực dùng để viết được con người biết đến từ lúc nào?
* Đã có mực tất phải có bút. Vậy bút hình thành như thế nào?
* Cây bút chì ra đời như thế nào?
* Còn bút máy thì sao?
* Từ bao giờ con người nghĩ ra máy đánh chữ, thay cho công việc viết tay?
* Từ chỗ chép tay, con người bắt đầu cải thiện việc làm này bằng cách in mộc bản vào thời gian nào?
* Ai là người đầu tiên phát minh ra phương pháp in bằng chữ rời?
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Giới thiệu
Chữ viết đến với chúng ta xuyên qua hàng ngàn năm của cuộc hành trình vĩ đại của nhân loại, để kể
với chúng ta về con người trong quá khứ. Nhân loại đã trải qua một con đường dài - từ ngày muốn
thông tin với nhau còn phải dùng ngôn ngữ của điệu bộ hoặc vẽ hình ảnh... Ngày nay, hàng ngàn nhật
báo, hàng ngàn tạp chí, hàng vạn quyển sách ồ ạt rời khỏi nhà in.
Triệu triệu tờ báo được bán ra mỗi ngày và trên toàn thế giới, triệu triệu quyển sách được xuất bản
mỗi năm. Chỉ riêng ở Việt Nam, báo định kỳ, tạp chí, đặc san chuyên ngành cũng đã lên đến con số
trên năm trăm. Và cả nước có gần 60 Nhà xuất bản thì mỗi năm in ra cũng hàng triệu bản in. Do đó,
không phải ngẫu nhiên có một học giả uyên bác nhận định: “Sự phát minh của chữ viết, chỉ riêng nó
thôi, còn quan trọng hơn toàn bộ những trận đánh trên toàn thế giới”.
Hành Trình Chữ Viết ra đời chính từ tầm quan trọng lớn lao của chữ viết, nhằm thỏa mãn nhu cầu phổ
thông dành cho độc giả trẻ, nhất là các bạn thanh thiếu niên.
LỜI NÓI ĐẦU
Chữ viết đến với chúng ta xuyên qua hàng ngàn năm của cuộc hành trình vĩ đại của nhân loại, để kể
với chúng ta về con người trong quá khứ. Nhân loại đã trải qua một con đường dài - từ ngày muốn
thông tin với nhau còn phải dùng ngôn ngữ của điệu bộ hoặc vẽ hình ảnh... Ngày nay, hàng ngàn nhật
báo, hàng ngàn tạp chí, hàng vạn tạp chí ồ ạt rời khỏi nhà in. Triệu triệu tờ báo được bán ra mỗi ngày
và trên toàn thế giới, triệu triệu quyển sách được xuất bản mỗi năm. Chỉ riêng ở Việt Nam, báo định kỳ
tạp chí, đặc sang chuyên ngành cũng đã lên con số trên năm trăm. Và cả nước có gần 60 Nhà xuất bản,
thì mỗi năm cũng in ra hàng triệu bản in. Do đó, không phải ngẫu nhiên có một học giả uyên bác nhận
định: “Sự phát minh của của chữ viết, chỉ riêng nó thôi, còn quan trọng hơn toàn bộ những trận đánh
trên toàn thế giới”.
Chính vì tầm quang trọng mà lịch sử đã chứng minh, những kẻ xâm lược thường phá hủy những kho
tang được viết bởi những dân tộc mà họ đánh bại. Chẳng hạn, thư viện thành Alexandre của Ai Cập,
khởi công vào năm 280 trước C.N, đã bị đám đông phóng hỏa lúc Jules César viếng thăm Cléopâtre.
Tuy được xây dựng lại nhưng sau đó, một lần nữa, nó bị phá hủy trong cuộc chiến của người hồi giáo
vào cuối năm 641. Hoặc, sau khi chinh phục Mễ Tây Cơ, Cortès đã ra lệnh hủy bỏ tất cả những văn
bản của người Aztèque. Hay tại nước Đức thời Quốc Xã, một trong những mệnh lệnh đầu tiên của
Hitler là đốt tất cả những quyển sách được xem là ca ngợi dân chủ. Còn ở Việt Nam, điều này cũng đã
từng xẩy ra. Chỉ xin nêu một ví dụ khá tiêu biểu. Đó là năm 1407, sau khi đánh bại nhà Hồ (1400 1407) giặc Minh đã thực hiện chính sách tiệu diệt văn hóa nước Đại Việt. Một trong những biện pháp
thâm độc đầu tiên của chúng là cướp hết sách vở nước ta đem về Trung Quốc “Dầu một chữ cũng
không để sót”!
Lịch sử đã ghi nhận vô số những nổ lực nhằm tiêu diệt chữ viết nhưng chữ viết vẫn trường tồn và ghi
lại những tiến bộ của nhân loại từ thời dã mang đến thời văn minh.
Lịch sử cũng ghi nhận những khác biệt về quan điểm, thường được giải quyết bằng chữ viết hơn là
lưỡi kiếm. Cơ sở của nền văn minh chúng ta là chữ viết.
Chữ viết là lời nói thuộc thị giác. Quyền năng lặng lẽ của nó là truyền đại ý tưởng. Nó cho phép trí tuệ
con người du hành qua thời gian và không gian, nó cho phép con người du hành qua thời gian và không
gian, nó cho phép con người tìm hiểu được nhiều điều mới lạ qua những khám về quá khứ. Vào một
ngàn năm trước C.N, trên đất nước Campuchia anh em, có một tấm đá trên đó khắc một câu từ quyển
sách luật cổ. Luật Manu. Câu đó như sau: “Trong tất cả những phẩm chất đạt được, phẩm chất vĩ đại
nhất chính là tri thức”. Hoặc bức tường của lối vào thư viện thành phố Brooklyn. New York, người ta
có thể đọc:
Nơi đây lưu giữ hy vọng của những trái tim lớn
Với âm vang thăm thẳm trong câu nói bay đi
Sự mầu nhiệm của từ đến với chúng ta
Bằng sự khôn ngoan bao đời tích lũy
Ở đất nước ta, ngay sau khi giành được Độc Lập, ngày 3.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra
nhiệm vụ “Chống giặc đói, chống giặc dốt và giặc ngoại xâm”. Sau đó, ngày 8.9.1945, Chính phủ đã ra
sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ nhằm đạt đến mục đích “Toàn thể dân chúng Việt Nam trên 8
tuổi phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ”. Tháng 10.1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ra lời kêu gọi
“toàn dân chống nạn thất học”. Người đã viết những dòng tha thiết: “Muốn giữ vũng nền độc lập,muốn
làm cho dân giàu nước mạnh, mọi người Việt Nam phải biết quyền lợi, nghĩa vụ của mình, phải có
kiến thức mới để tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ
Quốc Ngữ”.
Chính từ tầm quan trọng lớn lao của chữ viết mà chúng tôi mạo muội biên tập Hành trình Chữ Viết nhằm thỏa mãn nhu cầu phổ thông dành cho đọc giả trẻ, nhất là các bạn thanh thiếu niên. Đây là một
vấn đề khó khăn đối với chúng tôi, do đó,trước khi tập sách đến tay bạn đọc, chúng tôi đã tham khảo
khá nhiều tài liệu cần thiết, như trong phần tài liệu tham khảo ở cuối sách có nêu rõ. Thế nhưng, trong
quá trình thực hiện tập sách này, chắc chắn không tránh khỏi sực nhằm lẫn và thiếu sót. Người biên
soạn và nhà xuất bản Trẻ rất mong nhận được ý kiến đóng góp xây dựng của đọc giả. Nhân đây, chúng
tôi cũng xin nói rõ, Hành Trình Chữ Viết là tập đầu tiên trong bộ sách nhiều tập “phổ biến kiến thức
phổ thông” do nhà thơ Lê Minh Quốc biên soạn.
Ở bộ sách này chúng tôi cố gắn trình bày những vấn đề liên quan đến văn hóa Việt Nam nói chung,
nhằm trang bị cho bạn đọc trẻ những kiến thức phổ thông mà họ thật sự có nhu cầu cần tìm hiểu.
Để bộ sách thật sự hữu ích cho người đọc,chúng tôi rất mong được sự chỉ giáo, giúp đỡ tận tình của
các đọc giả uyên bác, của các nhà nghiên cứu và các bạn đọc xa gần để bộ sách ngày càng hoàn hảo
hơn. Trước hết, xin đọc giả ghi nhận ở đây sực biết ơn sâu xa của chúng tôi.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
* Chữ viết hình thành trước hay sau ngôn ngữ?
Trong tác phẩm tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượng thành người, Engels khẳng
định: “lao động là điều cơ bản đầu tiên của toàn bộ sinh hoạt loài người,và như thế đến một mức
mà,trên ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói: “Lao động đã sáng tạo ra chính bản thân con người” và “sự
phát triển của lao động đã đưa đến kết quả tất yếu là thắt chặt thêm mối liên hệ giữa các thành viên
trong xã hội, bằng cách tạo ra rất nhiều trường hợp để con người giúp đỡ lẫn nhau, hợp tác với nhau,
và làm cho con người ngày càng có ý thức rõ rệt hơn về lợi ích của sự hợp tác ấy đối với mỗi thành
viên riêng lẻ.Tóm lại, những con người hình thành ấy đã phát triển đến mức họ thấy cần thiết phải nói
với nhau một cái gì đấy... Ngôn ngữ phát triển từ trong lao động và cùng phát triển với lao động, đó là
cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ”. Từ chổ “cần thiết phải nói với nhau một cái
gì đấy”, trước hết con người dung cử chỉ, điệu bộ, hình vẽ... để trao đổi thông tin với nhau và cuối
cùng là họ dùng chữ viết.
* Khi chưa có chữ viết, con người đã lưu giữ và truyền đạt
thông tin với nhau như thế nào?
Có lẽ, trước hết con người thời tiền sử phải vận dụng vào trí nhớ và vần điệu. Mọi thông tin cần thiết
được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ca dao Việt Nam có câu: “Ngàn năm bia miệng vẫn
cò trơ trơ” là vậy. Nhà văn M.Gorky đã nhận định chính xác. “trước kia, vào thời thượng cổ, sáng tác
nghệ thuật truyền khẩu của nhân dân lao động là yếu tố duy nhất tổ chức kinh nghiệm của họ lại, thể
hiện các tư tưởng của họ thành hình tượng và thúc đẩy năng lực lao động của tập thể”. Dần dấn tư duy
con người phát triển, hoạt động ngôn ngữ ngày càng hoàn thiện hơn, họ đã sắp xếp các ngôn từ lại với
nhau có vần điệu để người giữ thông tin dễ nhớ. Và đó cũng là cách dễ thắm sâu vào trí nhớ của người
được truyền đạt thông tin. Nhà nghiên cứu Đặng Đức Siêu cho rằng: “thế là, dựa vào trí nhớ và vần
điệu, với phương thức truyền miệng, những thành quả văn hóa của bao thế hệ được đúc kết lại trong
lời nói đã lưu truyền từ đời này sang đời khác, tạo nên sự cảm thông, nối tiếp giữa giá trị trường tồn
đã được hình thành và cũng cố. Với sự xuất hiện của chữ viết, những giá trị truyền thống này sẽ được
cố định lại, sẽ được lưu giữ và chuyển động một cách chính xác hơn, góp phần tạo dựng nên những cơ
sở vững chắc cho nền văn minh phát triển mạnh mẽ”.
* Những bước quá độ để cho ra đời chữ viết đã hình thành ra
sau?
Ngôn ngữ bằng điệu bộ:
Có thể gọi đó là ngôn ngữ trong không khí - đã được sử dụng từ thời sơ khai. Con người không hiểu
được ngôn ngữ người khác chỉ có thể truyền đạt thông tin bằng điệu bộ. Trong cộng đồng xã hội, thông
tin thường điệu bộ và vẻ mặt đi kèm với lời nói để biểu lộ thông tin nào đó. Thổ dân Bắc Mỹ phát
minh ra môt phương pháp ngôn ngữ bằng điệu bộ cực kỳ chính xác. Hàng trăm dáng điệu và hàng trăm
điệu bộ được tạo nên, và một số trong đó được chắp nhận trên toàn cõi Bắc Mỹ. Chẳng hạn, mặt trời
thì tròn, một điệu bộ vạch ra hình tròn trong không khí có nghĩa là mặt trời. Một kích thước được biểu
thị bằng cách dang đôi cánh tay v.v...
Những thanh gỗ biết nói:
Đó là những thanh gậy có vết khắc mà người ta gọi là những “thanh gỗ biết nói” - đã sử sụng những
phương tiện truyền tin thời nguyên thủy. Người gửi trước tiên tạo một vết khắc trên mãnh gỗ và giải
thích cho người đưa tin biết điều nó biểu thị. Tiếp đến, người gửi tạo thêm vết khắc thứ nhì và vết
khắc thứ ba - nghĩa là mỗi vết khắc mỗi thông điệp muốn truyền đi. Bấy giờ người đó mới trao cây gậy
cho người đưa tin sau đó người đưa tin lên đường đi tìm người nhận và “đọc” cho người này nghe
rằng mình có bổn phận truyền đạt nội dung của từng vết khắc. Nhờ có những vết khắc này, người đưa
tin đã truyền đạt tin tức được đầy đủ. Con người tiền sử của phi châu, Úc châu, Trung Quốc, Anh, Na
Uy, Bắc Mỹ v.v...đều sử dụng hệ thống của vết khắc nói trên.
Ngoài ra, những bộ lạc miền đông Hoa Kỳ còn chế tạo ra những thắt lưng bằng vỏ sò - gọi là
Wampounms. Loại dây thắt lưng này không chỉ dung làm đồ trang trí hoặc trao đổi trong quan hệ mua
bán, mà chúng còn biểu thị những truyền đạt bằng hình vẽ. Các hình vẽ đủ màu sắc, được dệt trên dây
thắt lưng đó, những bộ lạc khác sống ở những khoảng cách rất xa đều có thể “giải mã” được.
Văn tự dây nút:
Nó dung để tính toán hoặc gửi đi một thông tin nào đó. Có câu chuyện kể rằng: Khoảng 500 năm trước
Thiên chúa giáng sinh, Darius - Vua xứ Ba Tư - chuẩn bị xâm lăng Scytie, đất nước tương ứng với một
số vùng của châu Âu và Châu Á sau này thuộc lãnh thổ của Liên Xô. Chiến binh Hy Lạp (đồng minh
của Ba Tư) được giao trách nhiệm gìn giữ cây cầu bắc qua sông Danube, trong lúc vua Ba Tư và đạo
quân của ông lên đường đi truy quyết người Scythie. Trước khi lên đường, Darius trao cho các sĩ quan
Hy lạp một dải da dài và hẹp có 60 cái nút trong lúc vắng ta. Khi nào các ngươi tháo tới cái nút cuối
cùng mà ta chưa trở về, các ngươi có thể rút lui “có thể xem đây là phương tiện tiện lợi để tính ngày.
Cái dải da đã đóng vai trò của một cái lịch. Như vậy, phương tiện để ghi chép sự kiện, để tính toán
hoặc gửi đi những thông điệp bằng những sợ dây nhiều màu, có thắt nút và dài ngắn khác nhau cũng
hình thành. Nổi tiếng nhất là cái Incas - tên gọi thổ dân thuộc đế quốc Quichua của người Incas - Tên
gọi thổ dân thuộc đế quốc Quichua ở Pérou vào khoảng thế kỷ thứ XVI trước C.N. Nhà nghiên cứu
Đặng Đức Siêu cho biết “tất cả những sợ dây có nút ấy được buộc vào một đoạn dây thừng to, nằm
ngang một Quipus có thể có tới hàng trăm dây, hàng nghìn nút. Màu sắc của dây, hình khối to nhỏ của
nút, độ dài ngắn của khoảng cách giữa các nút...đóng vai trò như các “con chữ” đảm nhiệm việc “ghi”
sự việc và thông báo tin tức theo qui ước “và” hiện nay người ta chỉ mới biết một vài điều sơ lược,
đại khái như sau: Quipus được dung trong việc tính toán, thống kê ghi lịch, ghi sự kiện, thông báo tin
tức v.v...Không những chúng biểu thị được số lượng (nhiều ít, bao nhiêu đơn vị...) mà còn biểu thị một
số ý niệm dựa trên qui ước, ví dụ như nút càng to, sự việc càng quan trọng, nút càng gần đoạn thừng
ngang, sự việc càng cấp bách. Nút dây màu đen tượng trưng cho sự chết chóc, đêm tối, kẻ địch bị giết.
Nút dây màu đỏ tượng trưng cho chiến tranh: Dây nút màu đỏ thắm được dung để nói về thủ lĩnh tối
cao. Nút dây màu trắng tượng trưng cho hòa bình, tương lai, nút dây màu vàng tượng trưng cho vàng,
nút dây màu xanh tượng trưng cho lương thực, ngũ cốc...theo tài liệu lịch sử và truyền thuyết còn lưu
lại, việc bện tết (tức ghi chép) và “đọc” (tức minh giải) các quipus này thuộc về một tầng lớp riêng
biệt được huấn luyện chu đáo, khá công phu, do một số đặc nhiệm đảm nhiệm.
Hình vẽ và dấu hiệu
Vào một ngày đẹp trời năm 1879, một nghiệp chủ người Tây Ban Nha khởi công thám hiểm một số
những hang đông. Theo chân ông còn có con gái là Maria. Đi sâu vào bóng tối, nhà thám hiểm, nhà
khảo cổ đặt xuống đất một cây đèn dầu mà ông đem theo và bắt đầu đào. Thỉnh thoảng ông nhặt lên một
hòn đá và cho vào túi xách. Và cũng thỉnh thoảng ông xem xét một cách chăm chú, dưới ánh đèn dầu,
một mãnh vở từ núi đá, hoặc một mẫu xương. Trong khi đó, Maria đã tỏ ra mệt mỏi khi phải nhìn cha
làm việc cật lực và cô bắt đầu dạo quanh đó, tuy nhiên vẫn không rời xa ánh sáng của ngọn đèn dầu.
Khám phá một đường dốc chật hẹp dọc theo vách đá, cô bước vào và nhìn quanh. Bỗng nhiên cô nhận
ra trên vách đá sần sùi những hình vẽ thể hiện các con vật dường như đang động đậy dưới ánh sáng
chập chờn, cô thảng thốt kêu lên:
- Ồ! Những con bò mộng! Cha ơi! Những con bò mộng...
Người cha đặt những dụng cụ của mình xuống đất và cầm đèn đến chỗ cô con gái. Maria lập lại giọng
sôi nổi:
- Lạ quá! Cha hãy nhìn xem những màu sắc kìa!
Người cha đưa cây đèn lên cao hết mức và đảo mắt nhìn quanh.
Trong tranh tối tranh sáng, quả nhiên ông nhìn thấy trên vách hang hình vẽ những con vật giống như
những con heo rừng khổng lồ và những con bò rừng bison - những con vật không còn tồn tại nữa tại
Tây Ban Nha từ nhiều thế kỷ nay. Do đó mà Don Marcelino de Sautuola và cô con gái Maria của ông
là những người đầ tiên khám phá ra những bức tranh có từ thời đồ đá.
Việc khám phá những bức tranh tiền sử đó đã đem lại tiếng tăm cho những hang động vùng Altamira ở
miền bắc Tây Ban Nha. Nhưng khám phá này có ý nghĩa gì?
Cách đây, hơn một thế kỷ, một nhà khảo cổ học lừng danhFlinders Petrie khám phá tại Ai Cập một
ngôi mộ cổ. Nó vẫn toàn vẹn trong khí hậu khô khốc của vùng này tiếp tục đào bới đoàn khảo cổ bắt
gặp nhiều món đồ gốm mang những dấu hiệu kỳ lạ. Trong nhiều năm liền, Petrie nghiên cứu những cái
bình đó với hy vọng xác định những con người - đã mất biệt từ thời nào xa xưa lắm - từng làm ra
chúng.
Nhờ hình dạng của những cái bình và những câu ghi trên đó, từng bước nhà khảo cổ Ai Cập ngược thời
gian tới thời tiền sử. Ông đã khám phá nền văn hóa thời tiền sử của những nhà nông và nhựng người
chăn cừu sống tại Ai Cập cả nước khi con người biết chữ viết. Trước Flinder Petrie, người ta mới chỉ
biết tới những hình ảnh tiền sử qua những hình vẽ trong hang động vùng Altamira. Một số đường rạch
và dấu vết tranh vẽ thỉnh thoảng còn được khám phá trên những hòn đá cuội dọc theo những con sông
của Pháp, Ý, Ailen và nhiều nơi khác. Những dấu hiệu đó xuất hiện từ 20.000 năm trước C.N. Một vài
nhà bác học nghĩ rằng chúng được dùng để xác định chủ nhân của những món đồ, như chúng ta ngày
nay vẫn ghi tên trên những quyển sách. Nhưng thật ra không ai biết đích xác chúng biểu thị cái gì.
Không phải lúc nào các nhà khảo cổ cũng khám phá ra ý nghĩa sâu xa của những món đồ tiền sử. Tuy
nhiên, các nhà bác học vẫn thành công trong việc xác định độ tuổi của nó và một vài điều cần thiết
khác. Đây là những thông tin quí báu liên quan đến đời sống con người tiền sử.
Qua những khám phá quan trọng trên, người ta thấy rằng, khi những nghệ sĩ thời nguyên thủy vẽ một
loạt hình ảnh, rất có thể chính họ cũng tìm cách kể lại một câu chuyện nào đó mà họ đã chứng kiến
trong cuộc đời mình. Và cũng nhờ đó mà ta mới hiểu được phần nào cuộc sống của những người xưa.
Tuy nhiên, thời gian càng trôi qua, cuộc sống càng phong phú hơn, những hình ảnh không thể hiện hết ý
mà người nghệ sĩ muốn nói.Vì thế mà chữ viết ra đời. Đây là mầm móng đầu tiên của toàn bộ của hệ
thống chữ viết sau này.
Một trong những hệ thống hình ảnh tốt nhất để truyền đạt ý tưởng đã phát sinh dọc theo sông Nil ở Ai
Cập, cách đây khoảng 5.000 năm. Chữ viết thể hiện bằng hình ảnh gần như được sử dụng khắp nơi.
Chữ tượng hình ấy đã được khám phá trên võ ốc, trên núi đá, trên vỏ cây và thậm chí trên cả những
mảnh da thú.
Muốn nói lên một ngọn núi, người nghệ sĩ có thể vẽ một hình răng cưa giản lược hoặc để biểu thị mặt
trời, họ có thể một hình tròn có tia như dưới đây:
Thế nhưng, dần dà con người lúc đó hiểu ra rằng loại chữ này không hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu
của mình. Làm sao có thể biểu thị một ý tưởng? Bằng cách nào có thể diễn tả nổi sợ, niềm vui hoặc
tình yêu? Bấy giờ, người nghệ sĩ phải giải quyết vấn đề bằng cách tạo ra kí hiệu ghi chú, tức là sự phối
hợp của những chữ tượng hình diễn tả một ý tưởng.
Khi thực hiện khả năng biểu thị một ý tưởng thì đó là một trong những tiến bộ quan trọng của lịch sử
chữ viết. Nhờ những kí hiệu ghi ý, người vẽ không chỉ thấy một đồ vật mà còn cho thấy một ý tưởng có
liên quan đến đồ vật đó. Chẳng hạn một chữ tượng hình đã cho thấy một ngọn núi và một chân người
như bên đây có thể đem lại một ý tưởng về một chuyến đi băng qua núi.
Cũng thế, một hình tròn biểu thị mặt trời có thể gợi ra ý tưởng về hơi nóng hoặc ánh sáng. Hoặc thậm
chí là thời gian ban ngày.
CHỮ TƯỢNG HÌNH ĐẦU THỜI KỲ SUMER
MỘT VÀI KÍ HIỆU GHI Ý
Của người Ai Cập
Của người Trung Quốc
Của người Sumer
CHỮ VIẾT TƯỢNG HÌNH
Tóm lại, ký hiệu hgi ý đã được tưởng tượng ra khoảng 2.000 năm trước C.N bởi các dân tộc nguyên
thủy trên thế giới. Đôi khi, cùng một kí hiệu ghi ý được tưởng tượng bởi những con người cách biệt
hàng ngàn cây số. Thí dụ: Một con mắt và một giọt lệ như hình vẽ bên đây:
đã biểu hiện sự
thống khổ hoặc nổi buốn của các dân tộc Maya hoặc Aztèque ở Trung Mỹ và thậm chí nó cũng được
người Trung Quốc sử dụng cùng một ý tưởng tường tự. Như vậy, ta có thể thấy rằng, chữ tượng hình
ghi ý có thể đảm đương nhiệm vụ trình bày và truyền đạt một số từ biểu thị những khái niệm trừu
tượng.
Thế nhưng, nó cũng gặp hạn chế là có những khái niệm không thể nào giải thích được bằng hình vẽ.
Hơn thế nữa, ngôn từ rất phong phú, theo thời gian nó phát triển không ngừng thì làm sao hình vẽ có
thể “sao chép” lại hết? Thật vậy, hình thức chữ viết bằng hình vẽ đã không thể nào xác định được mức
độ chính xác và đầy đủ mà người “viết” muốn biểu thị. Có câu chuyện kể lại rằng: Năm 516 trước C.N
Darius xâm lược nhiều nước, kể cả Scythie, họ đòi cuống nộp đất đai và nước uống để chúng minh
cho sức mạnh của quân đội Ba Tư. Trước đó không lâu, một người đưa tin - người Scythie đến, mang
theo “lá thư” gửi cho Darius là hình vẽ: Một con chim, một con chuột nhắt, một con ếch và năm mũi
tên. Khi được hỏi ý nghĩa của những món quà, người đưa tin nín thinh. Bấy giờ, người Ba Tư mới hội
ý với nhau. Theo Darius, thì đó là lễ vật của sự phục tùng. Nhưng Gobryas - viên tướng Ba Tư không
đồng ý và giải thích ý nghĩa của những món quà đó như sau: Người Ba Tư hãy cút đi! Nếu các ngươi
còn ở lại đây, các người sẽ vong mạng. Cho dù các ngươi có biến thành chim để bay lên trời, thành
chuột nhắt để lẫn trốn trong hang dưới lòng đất hoặc thành ếch nhái để tìm kiếm sự an toàn dưới đáy
nước thì những mũi tên của người Scythie cũng sẽ tiêu diệt các ngươi”. Lời giải thích này sau này đã
được chứng minh là chính xác.
Chính những hạn chế của chữ viết bằng hình vẽ mà chữ ghi âm ra đời. Nhà nghiên cứu Đặng Đức Siêu
cho biết: “Qua trực giác và kinh nghiệm hoạt động ngôn ngữ người xưa đã nhận thức được hiện tượng
đồng âm khác nghĩa của từ. Một cấu kết ngữ âm nhất định có thể hiện hàng loạt từ có ý nghĩa khác
nhau. Và rất may, trong hàng loạt từ này, thường bao giờ cũng có một số từ biểu đạt những vật thực thể,
hữu hình, có thể vẽ ra được, cũng có nghĩa là dễ dàng dùng từ tượng hình để biểu thị. Ta có thể thấy
được “vang bóng của hiện tượng này trong trò chơi đố chữ bằng hình vẽ. Người vẽ cái tháp (tour) và
cái mũi (nez) để biểu thị từ tourner có nghĩa là quay trở lại. Người Nhật vẽ cái búa (yoki), cây đàn cổ
(kota) và đóa hoa cúc (kiku) để biểu thị câu chăm ngôn “yoki koyo kiku” (nghe điều thiện) v. v...”
Cũng chính vì thế, người Ai Cập cổ xưa đã có thể dùng chữ tượng hình “con chim én” với âm đọc wz
để biểu thị một từ khác có ý nghĩa là to lớn cũng có âm đọc là wr; dùng chữ tượng hình “cái nhà” với
âm đọc là pr để biểu thị một động từ, động từ prj, có nghĩa là ra, đi ra v.v... Như vậy là, chữ hình vẽ
hoặc chữ tượng hình, ghi nhớ giờ đây chỉ được sử dụng ở một mặt: Mặt biểu thị âm đọc, còn ý nghĩa
của nó thì sẽ tùy ngữ cảnh mà xác định. Đây là một bước tiến có tính chất quyết định và có ý nghĩa vô
cùng lớn lao trên con đường đi tìm phượng tiện lưu trữ và chuyển vận lời nói. Trên cơ sở này nảy sinh
loại chữ viết xây dựng trên nguyên tắc mới, nguyên tắc ghi âm. Đó là loại ngữ ghi âm - loại chữ tiên
tiến nhất, có khả năng bám sát ngôn ngữ nói, có thể ghi lại mọi từ nhằm biểu thị vật thể, khái niệm, dù
có trừu tượng đến đâu chăng nữa. Từ đây chúng ta có thể nhìn lại, một cái tổng quát những bước tiến
nhất định mà chữ viết đã trải qua. Như chúng ta đã biết, mọi hệ thống chữ viết đều thoát thai từ hình
vẽ. Một hình vẽ, trong khuôn khổ chữ tượng hình, nó biểu thị bản thân vật thể được vẽ ra; đến giai
đoạn chữ ghi ý, bên cạnh việc biểu thị bản thân vật thể đó, nó còn biểu thị những ý nghĩa tìm tàng có
liên quan đến vật thể đó. Nhưng, sang đến giai đoạn chữ ghi âm, hình vẽ chỉ còn có giá trị biểu thị âm
đọc mà thôi. Và, về nguyên tắc, người ta có thể lựa chọn một số chữ tượng hình nhất định làm kí hiệu
ghi âm để ghi chép mọi từ trong ngôn ngữ nói, trên cơ sở cùng âm đọc thì viết giống nhau (tức là ghi
lại bằng cùng một kí hiệu) mặc dầu ý nghĩa rất khác nhau. Đó là ngữ âm tiết, ghi trọn vẹn âm đọc của
một từ (hoặc một bộ phận từ)”. Tất nhiên hành trình của việc sáng tạo ra chữ viết chưa dừng lại ở đó
mà nó còn những động tác tích cực khác nữa để ngày càng hoàn chỉnh hơn.
* Vậy chữ viết ra đời cách đây bao nhiêu năm?
Cách đây 5.000 năm! Trong một đền thờ tại thành phố Uruk, phía nam Bagdad, ngày nay người ta đã
phát hiện ra các tài liệu viết tay đầu tiên của nhân loại, viết bằng chữ tượng hình trên những tấm bảng
bằng đất sét. Do bằng chất liệu này nên chữ viết cũng ảnh hưởng theo, mà ta gọi là chữ hình góc. Khởi
thủy, tại vùng Mésoptamie (Lưỡng Hà), người Sumer đã thấy rằng, trên những món đồ gốm, lúc đất sét
còn ướt ta có thể vạch ra những chữ tượng hình để ghi lại dấu hiệu cần thiết.
Những dấu hiệu đó được khắc lên đất sét còn ướt bằng một đầu nhọn que sậy đã gọt hoặc bằng mũi
dao. Dụng cụ này để lại những dấu hiệu kì lạ hình góc, như hình vẽ bên đây:
Khi những dấu hiệu đã được khắc, người ta nung những phiến đất sét trong một cái lò của người thợ
hoặc phơi chúng ngoài nắng. Nhờ cách xử lý đó, đất sét trở nên cứng như đá, điều này giải thích tại
sao nhiều phiến đá nung mang chữ hình góc vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Một danh từ thông dụng,
chim chẳng hạn, ban dầu được biểu đạt bằng dấu hiệu:
Tiếp đến, trong nhiều năm dài, chữ viết tiến hóa và dấu hiệu trở thành
rồi đến
và cuối cùng
là
dấu hiệu trong đó mọi điểm giống với con chim đều biến mất và chỉ còn lại một biểu tượng
hoàn toàn trừu tượng để diễn tả ý tưởng về nó. Chữ viết hình gốc được được phần đông xã hội nguyên
thủy hiện hữu trong phần đất này của thế giới chấp nhận như chữ viết chính thức. Nền văn minh Sumer
kéo dài tới hơn 1.500 năm. Trong thời kỳ đó, chữ viết hình góc đã lan rộng tới tận tây Á. Hệ thống viết
đó được người Babylone, người Assyrie và người BaTư cho đến thời Jésus Christ sử dụng - nghĩa là
rất lâu sau khi đất nước Sumer ngưng tồn tại.
Nếu tại vùng Lưỡng Hà, Người Sumer viết lên đất sét vì vùng này đất đai màu mỡ do hai dòng sông
Tigre và Euphrate tạo nên; thì người Ai Cập cổ viết lên giấy vì học chế biến ra giấy từ loại cây sậy
mọc dọc theo sông Nil; Hoặc người Trung Quốc viết lên các thẻ tre, trên giấy...Như vậy, mỗi nền văn
minh đều chọn một chất liệu thích hợp để thể hiện chữ viết. Chữ viết đi qua một chặn đường dài, từ
Sumer đế thung lũng Silicon, chứng tỏ lịch sử các nền văn minh được liên kết chặt chẽ với mọi chất
liệu chứa chữ viết. Và cũng do thể hiện trên các chất liệu viết khác nhau, từ chổ viết trên đất sét đến
khi viết trên da thú, trên giấy thì chữ viết đã mếm mại hơn. Ngày nay, chữ viết đã đi vào thời kỳ kỹ
thuật số và được lưu vào đãi CD-ROM...
* Sự ra đời của bảng chữ cái như thế nào?
Vào khoảng năm 2.500 trước C.N người Ai Cập vẫn còn sử dụng chữ tượng hình cho những tài liệu
quan trọng nhất. Nhưng họ cũng đã phát minh ra một hình thức chữ viết rút gọn gọi là thần tự, trong đó
những hình thức tranh họa của chữa tượng hình được thu gọn thành dấu hiệu giản dị. Ban đầu thần tự
được ghi thành những hình trụ, về sau chúng thành những hàng nằm ngang và đi từ phải sang trái.
Thông thường chữ viết đó của người Ai Cập được sử dụng bởi những tăng lữ và giai cấp quí tộc. Dần
dà công việc làm ăn buôn bán phát triển, qua công viếc giao dịch làm ăn người ta nhận ra rằng loại
chữ tượng hình dù được rút gọn nhưng vẫn tốn công vẽ dài dòng và thường khi cũng khó mà đọc nổi
cho chính xác. Từ đó, một hình thức viết mới, còn nhanh gọn hơn nữa, chữ viết giản lược, được phát
minh vào khoảng thế kỷ VII trước C.N dành rộng rãi cho người bình dân.
Đúng như nhà nghiên cứu Đặng Đức Siêu đã viết: “Qua tay từng người, từng thế hệ và trong quá trình
lan tỏa từ nơi này sang nơi khác, chữ viết ở các quốc gia cổ xưa ấy dần dần biến đổi. Xu hướng chung
là: Giảm bớt những chi tiết rườm rà, xác định rõ hơn hệ thống và nhích đến nguyên tắc ghi âm. Viết dễ
hơn, nhanh hơn, ghi đầy đủ hơn mọi hoạt động lời nói của con người - đó là mục đích chân xác mà
những con người sáng tạo ra chữ viết, đồng thời cũng là những con người sáng tạo ra nền văn háo huy
hoàng được lưu ký một phần trong chữ viết, muốn đạt tới”.
“Tuy vậy, ở Ai Cập, chữ viết đã dừng lại ở giai đoạn tượng hình - ghi ý hàng mấy chục thế kỷ. Rất
nhiều điều kiện thuận lợi cho việc cải tiến triệt để hệ thống văn tự này đã xuất hiện; thậm chí, cả một
hệ thống ghi âm tố đã xuất hiện gần như hoàn chỉnh. Nhưng Ai Cập đã bỏ qua cơ hội quí báu ấy. Thay
vì mạnh dạn tiến thẳng sang hệ thống văn tự ghi âm, gọn gàng và tiện lợi, tính khoa học và tính chuẩn
xác đều cao, chữ viết Ai cập đã rẽ ngang con đường nửa ghi âm - nửa ghi ý, với những ký hiệu tượng
hình rườm rà, phức tạp, phải vẽ từng chữ một, rất tốn thời gian và sức lực”. Cũng vì vậy, vai trò hình
thành bảng chữ cái chung cho tất cả hệ thống chữ viết ngày nay - trừ thời Trung Quốc - lại thuộc về
người Phénicie. Cho dù các hệ thống chữ viết có v...
LỜI NÓI ĐẦU
* Chữ viết hình thành trước hay sau ngôn ngữ?
* Khi chưa có chữ viết, con người đã lưu giữ và truyền đạt thông tin với nhau như thế nào?
* Những bước quá độ để cho ra đời chữ viết đã hình thành ra sau?
* Vậy chữ viết ra đời cách đây bao nhiêu năm?
* Sự ra đời của bảng chữ cái như thế nào?
* Bảng chữ cái của người Hy Lạp ra sao?
* Bảng chữ cái của người Éturie và người La Mã ra sao?
* Bảng chữ cái La Tinh như thế nào?
* Bảng chữ cái Ả Rập ra sao?
* Có phải thời trung cổ, người ta dùng chữ viết để... chữa bệnh?
* Chữ hán của người Trung Quốc có từ bao giờ?
* Chữ Hán được cấu tạo theo sáu nguyên tắc gọi là “lục thư”. Vậy “lục thư” là gì?
* Cách viết chữ Hán tuân theo qui tắc nào?
* Có phải trên cùng một đất nước, nhưng người Trung Quốc không hẳn đã nói và viết giống nhau?
* Chữ Hán lớn nhất thế giới cuối thế kỷ XX được viết trong dịp nào? Ai viết?
* Cho biết định nghĩa nổi tiếng nhất về nghệ thuật Thư Pháp của người Trung Quốc?
* Bảng học vần của Hoa Kỳ do ai phát minh ra?
* Chữ Hán truyền vào Việt Nam từ lúc nào?
* Trên tiền đồng, tiền giấy đầu tiên của nước Việt Nam đã khắc và viết chữ gì?
* Các ấn tín dưới triều Nguyễn chứa những gì?
* Trước khi biết đến chữ Hán, có phải người Việt cổ đã có văn tự riêng?
* Tại sao ông cha ta sáng tạo ra chữ Nôm và giá trị ảnh hưởng của nó trong văn hóa nước nhà?
* Quyển tự điển xưa nhất bằng tiếng Nôm “Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa” nay còn lưu giữ được có phải
do
* Có phải bài thơ đuổi cá sấu do Hàn Thuyên viết dưới thời nhà Trần là có thật?
* Vấn đề cấu tạo chữ nôm như thế nào?
* Có phải giáo sư Phạm Huy Thông thời trẻ từng... sáng chế ra chữ nôm mới?
* Có phải chữ Nôm của người Việt nam đã được công nhận vào “bộ nhớ” quốc tế?
* Sự hình thành của chữ quốc ngữ như thế nào?
* Vậy A.de Rhodes không phải là ông tổ của chữ Quốc ngữ như lâu nay ta thường nghĩ?
* Toàn văn nội dung bia kỷ niệm Alexandre de Rhodes, phần bằng chữ Quốc ngữ đã được viết như thế
nào
* Cho biết một đoạn văn mà A.de Rhodes đã viết để thấy được chữ Quốc Ngữ giữa thế kỷ XVII?
* Từ quyển từ điển Việt - Bồ - La của A.de Rhodes in năm 1651, đến cuối thế kỷ XVIII chữ Quốc ngữ
lạ
* Sau đó, về chữ Quốc ngữ còn có công trình nghiên cứu nào đáng kể nữa không?
* Cho biết đôi nét về vấn đề cải cách chữ Quốc ngữ đã diễn ra lâu nay?
* Ý kiến của nhà ngôn ngữ học, GS Cao Xuân Hạo: “về cách viết tên riêng nước ngoài trên văn bản
tiến
* Cách đọc mẫu tự chữ Quốc ngữ có thay đổi hay không?
* Cách viết mẫu tự chữ quốc ngữ có thay đổi hay không?
* Từ khi có chữ viết, con người đã viết trên cái gì?
* Giấy da và giấy da bê đã xuất hiện vào thời gian nào?
* Khi phát minh ra giấy da và giấy da bê thì chữ viết ở đó có thay đổi không?
* Giấy ra đời từ bao giờ?
* Nghề làm giấy ở Việt Nam có từ bao giờ?
* Mực dùng để viết được con người biết đến từ lúc nào?
* Đã có mực tất phải có bút. Vậy bút hình thành như thế nào?
* Cây bút chì ra đời như thế nào?
* Còn bút máy thì sao?
* Từ bao giờ con người nghĩ ra máy đánh chữ, thay cho công việc viết tay?
* Từ chỗ chép tay, con người bắt đầu cải thiện việc làm này bằng cách in mộc bản vào thời gian nào?
* Ai là người đầu tiên phát minh ra phương pháp in bằng chữ rời?
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Giới thiệu
Chữ viết đến với chúng ta xuyên qua hàng ngàn năm của cuộc hành trình vĩ đại của nhân loại, để kể
với chúng ta về con người trong quá khứ. Nhân loại đã trải qua một con đường dài - từ ngày muốn
thông tin với nhau còn phải dùng ngôn ngữ của điệu bộ hoặc vẽ hình ảnh... Ngày nay, hàng ngàn nhật
báo, hàng ngàn tạp chí, hàng vạn quyển sách ồ ạt rời khỏi nhà in.
Triệu triệu tờ báo được bán ra mỗi ngày và trên toàn thế giới, triệu triệu quyển sách được xuất bản
mỗi năm. Chỉ riêng ở Việt Nam, báo định kỳ, tạp chí, đặc san chuyên ngành cũng đã lên đến con số
trên năm trăm. Và cả nước có gần 60 Nhà xuất bản thì mỗi năm in ra cũng hàng triệu bản in. Do đó,
không phải ngẫu nhiên có một học giả uyên bác nhận định: “Sự phát minh của chữ viết, chỉ riêng nó
thôi, còn quan trọng hơn toàn bộ những trận đánh trên toàn thế giới”.
Hành Trình Chữ Viết ra đời chính từ tầm quan trọng lớn lao của chữ viết, nhằm thỏa mãn nhu cầu phổ
thông dành cho độc giả trẻ, nhất là các bạn thanh thiếu niên.
LỜI NÓI ĐẦU
Chữ viết đến với chúng ta xuyên qua hàng ngàn năm của cuộc hành trình vĩ đại của nhân loại, để kể
với chúng ta về con người trong quá khứ. Nhân loại đã trải qua một con đường dài - từ ngày muốn
thông tin với nhau còn phải dùng ngôn ngữ của điệu bộ hoặc vẽ hình ảnh... Ngày nay, hàng ngàn nhật
báo, hàng ngàn tạp chí, hàng vạn tạp chí ồ ạt rời khỏi nhà in. Triệu triệu tờ báo được bán ra mỗi ngày
và trên toàn thế giới, triệu triệu quyển sách được xuất bản mỗi năm. Chỉ riêng ở Việt Nam, báo định kỳ
tạp chí, đặc sang chuyên ngành cũng đã lên con số trên năm trăm. Và cả nước có gần 60 Nhà xuất bản,
thì mỗi năm cũng in ra hàng triệu bản in. Do đó, không phải ngẫu nhiên có một học giả uyên bác nhận
định: “Sự phát minh của của chữ viết, chỉ riêng nó thôi, còn quan trọng hơn toàn bộ những trận đánh
trên toàn thế giới”.
Chính vì tầm quang trọng mà lịch sử đã chứng minh, những kẻ xâm lược thường phá hủy những kho
tang được viết bởi những dân tộc mà họ đánh bại. Chẳng hạn, thư viện thành Alexandre của Ai Cập,
khởi công vào năm 280 trước C.N, đã bị đám đông phóng hỏa lúc Jules César viếng thăm Cléopâtre.
Tuy được xây dựng lại nhưng sau đó, một lần nữa, nó bị phá hủy trong cuộc chiến của người hồi giáo
vào cuối năm 641. Hoặc, sau khi chinh phục Mễ Tây Cơ, Cortès đã ra lệnh hủy bỏ tất cả những văn
bản của người Aztèque. Hay tại nước Đức thời Quốc Xã, một trong những mệnh lệnh đầu tiên của
Hitler là đốt tất cả những quyển sách được xem là ca ngợi dân chủ. Còn ở Việt Nam, điều này cũng đã
từng xẩy ra. Chỉ xin nêu một ví dụ khá tiêu biểu. Đó là năm 1407, sau khi đánh bại nhà Hồ (1400 1407) giặc Minh đã thực hiện chính sách tiệu diệt văn hóa nước Đại Việt. Một trong những biện pháp
thâm độc đầu tiên của chúng là cướp hết sách vở nước ta đem về Trung Quốc “Dầu một chữ cũng
không để sót”!
Lịch sử đã ghi nhận vô số những nổ lực nhằm tiêu diệt chữ viết nhưng chữ viết vẫn trường tồn và ghi
lại những tiến bộ của nhân loại từ thời dã mang đến thời văn minh.
Lịch sử cũng ghi nhận những khác biệt về quan điểm, thường được giải quyết bằng chữ viết hơn là
lưỡi kiếm. Cơ sở của nền văn minh chúng ta là chữ viết.
Chữ viết là lời nói thuộc thị giác. Quyền năng lặng lẽ của nó là truyền đại ý tưởng. Nó cho phép trí tuệ
con người du hành qua thời gian và không gian, nó cho phép con người du hành qua thời gian và không
gian, nó cho phép con người tìm hiểu được nhiều điều mới lạ qua những khám về quá khứ. Vào một
ngàn năm trước C.N, trên đất nước Campuchia anh em, có một tấm đá trên đó khắc một câu từ quyển
sách luật cổ. Luật Manu. Câu đó như sau: “Trong tất cả những phẩm chất đạt được, phẩm chất vĩ đại
nhất chính là tri thức”. Hoặc bức tường của lối vào thư viện thành phố Brooklyn. New York, người ta
có thể đọc:
Nơi đây lưu giữ hy vọng của những trái tim lớn
Với âm vang thăm thẳm trong câu nói bay đi
Sự mầu nhiệm của từ đến với chúng ta
Bằng sự khôn ngoan bao đời tích lũy
Ở đất nước ta, ngay sau khi giành được Độc Lập, ngày 3.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra
nhiệm vụ “Chống giặc đói, chống giặc dốt và giặc ngoại xâm”. Sau đó, ngày 8.9.1945, Chính phủ đã ra
sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ nhằm đạt đến mục đích “Toàn thể dân chúng Việt Nam trên 8
tuổi phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ”. Tháng 10.1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ra lời kêu gọi
“toàn dân chống nạn thất học”. Người đã viết những dòng tha thiết: “Muốn giữ vũng nền độc lập,muốn
làm cho dân giàu nước mạnh, mọi người Việt Nam phải biết quyền lợi, nghĩa vụ của mình, phải có
kiến thức mới để tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ
Quốc Ngữ”.
Chính từ tầm quan trọng lớn lao của chữ viết mà chúng tôi mạo muội biên tập Hành trình Chữ Viết nhằm thỏa mãn nhu cầu phổ thông dành cho đọc giả trẻ, nhất là các bạn thanh thiếu niên. Đây là một
vấn đề khó khăn đối với chúng tôi, do đó,trước khi tập sách đến tay bạn đọc, chúng tôi đã tham khảo
khá nhiều tài liệu cần thiết, như trong phần tài liệu tham khảo ở cuối sách có nêu rõ. Thế nhưng, trong
quá trình thực hiện tập sách này, chắc chắn không tránh khỏi sực nhằm lẫn và thiếu sót. Người biên
soạn và nhà xuất bản Trẻ rất mong nhận được ý kiến đóng góp xây dựng của đọc giả. Nhân đây, chúng
tôi cũng xin nói rõ, Hành Trình Chữ Viết là tập đầu tiên trong bộ sách nhiều tập “phổ biến kiến thức
phổ thông” do nhà thơ Lê Minh Quốc biên soạn.
Ở bộ sách này chúng tôi cố gắn trình bày những vấn đề liên quan đến văn hóa Việt Nam nói chung,
nhằm trang bị cho bạn đọc trẻ những kiến thức phổ thông mà họ thật sự có nhu cầu cần tìm hiểu.
Để bộ sách thật sự hữu ích cho người đọc,chúng tôi rất mong được sự chỉ giáo, giúp đỡ tận tình của
các đọc giả uyên bác, của các nhà nghiên cứu và các bạn đọc xa gần để bộ sách ngày càng hoàn hảo
hơn. Trước hết, xin đọc giả ghi nhận ở đây sực biết ơn sâu xa của chúng tôi.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
* Chữ viết hình thành trước hay sau ngôn ngữ?
Trong tác phẩm tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượng thành người, Engels khẳng
định: “lao động là điều cơ bản đầu tiên của toàn bộ sinh hoạt loài người,và như thế đến một mức
mà,trên ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói: “Lao động đã sáng tạo ra chính bản thân con người” và “sự
phát triển của lao động đã đưa đến kết quả tất yếu là thắt chặt thêm mối liên hệ giữa các thành viên
trong xã hội, bằng cách tạo ra rất nhiều trường hợp để con người giúp đỡ lẫn nhau, hợp tác với nhau,
và làm cho con người ngày càng có ý thức rõ rệt hơn về lợi ích của sự hợp tác ấy đối với mỗi thành
viên riêng lẻ.Tóm lại, những con người hình thành ấy đã phát triển đến mức họ thấy cần thiết phải nói
với nhau một cái gì đấy... Ngôn ngữ phát triển từ trong lao động và cùng phát triển với lao động, đó là
cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ”. Từ chổ “cần thiết phải nói với nhau một cái
gì đấy”, trước hết con người dung cử chỉ, điệu bộ, hình vẽ... để trao đổi thông tin với nhau và cuối
cùng là họ dùng chữ viết.
* Khi chưa có chữ viết, con người đã lưu giữ và truyền đạt
thông tin với nhau như thế nào?
Có lẽ, trước hết con người thời tiền sử phải vận dụng vào trí nhớ và vần điệu. Mọi thông tin cần thiết
được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ca dao Việt Nam có câu: “Ngàn năm bia miệng vẫn
cò trơ trơ” là vậy. Nhà văn M.Gorky đã nhận định chính xác. “trước kia, vào thời thượng cổ, sáng tác
nghệ thuật truyền khẩu của nhân dân lao động là yếu tố duy nhất tổ chức kinh nghiệm của họ lại, thể
hiện các tư tưởng của họ thành hình tượng và thúc đẩy năng lực lao động của tập thể”. Dần dấn tư duy
con người phát triển, hoạt động ngôn ngữ ngày càng hoàn thiện hơn, họ đã sắp xếp các ngôn từ lại với
nhau có vần điệu để người giữ thông tin dễ nhớ. Và đó cũng là cách dễ thắm sâu vào trí nhớ của người
được truyền đạt thông tin. Nhà nghiên cứu Đặng Đức Siêu cho rằng: “thế là, dựa vào trí nhớ và vần
điệu, với phương thức truyền miệng, những thành quả văn hóa của bao thế hệ được đúc kết lại trong
lời nói đã lưu truyền từ đời này sang đời khác, tạo nên sự cảm thông, nối tiếp giữa giá trị trường tồn
đã được hình thành và cũng cố. Với sự xuất hiện của chữ viết, những giá trị truyền thống này sẽ được
cố định lại, sẽ được lưu giữ và chuyển động một cách chính xác hơn, góp phần tạo dựng nên những cơ
sở vững chắc cho nền văn minh phát triển mạnh mẽ”.
* Những bước quá độ để cho ra đời chữ viết đã hình thành ra
sau?
Ngôn ngữ bằng điệu bộ:
Có thể gọi đó là ngôn ngữ trong không khí - đã được sử dụng từ thời sơ khai. Con người không hiểu
được ngôn ngữ người khác chỉ có thể truyền đạt thông tin bằng điệu bộ. Trong cộng đồng xã hội, thông
tin thường điệu bộ và vẻ mặt đi kèm với lời nói để biểu lộ thông tin nào đó. Thổ dân Bắc Mỹ phát
minh ra môt phương pháp ngôn ngữ bằng điệu bộ cực kỳ chính xác. Hàng trăm dáng điệu và hàng trăm
điệu bộ được tạo nên, và một số trong đó được chắp nhận trên toàn cõi Bắc Mỹ. Chẳng hạn, mặt trời
thì tròn, một điệu bộ vạch ra hình tròn trong không khí có nghĩa là mặt trời. Một kích thước được biểu
thị bằng cách dang đôi cánh tay v.v...
Những thanh gỗ biết nói:
Đó là những thanh gậy có vết khắc mà người ta gọi là những “thanh gỗ biết nói” - đã sử sụng những
phương tiện truyền tin thời nguyên thủy. Người gửi trước tiên tạo một vết khắc trên mãnh gỗ và giải
thích cho người đưa tin biết điều nó biểu thị. Tiếp đến, người gửi tạo thêm vết khắc thứ nhì và vết
khắc thứ ba - nghĩa là mỗi vết khắc mỗi thông điệp muốn truyền đi. Bấy giờ người đó mới trao cây gậy
cho người đưa tin sau đó người đưa tin lên đường đi tìm người nhận và “đọc” cho người này nghe
rằng mình có bổn phận truyền đạt nội dung của từng vết khắc. Nhờ có những vết khắc này, người đưa
tin đã truyền đạt tin tức được đầy đủ. Con người tiền sử của phi châu, Úc châu, Trung Quốc, Anh, Na
Uy, Bắc Mỹ v.v...đều sử dụng hệ thống của vết khắc nói trên.
Ngoài ra, những bộ lạc miền đông Hoa Kỳ còn chế tạo ra những thắt lưng bằng vỏ sò - gọi là
Wampounms. Loại dây thắt lưng này không chỉ dung làm đồ trang trí hoặc trao đổi trong quan hệ mua
bán, mà chúng còn biểu thị những truyền đạt bằng hình vẽ. Các hình vẽ đủ màu sắc, được dệt trên dây
thắt lưng đó, những bộ lạc khác sống ở những khoảng cách rất xa đều có thể “giải mã” được.
Văn tự dây nút:
Nó dung để tính toán hoặc gửi đi một thông tin nào đó. Có câu chuyện kể rằng: Khoảng 500 năm trước
Thiên chúa giáng sinh, Darius - Vua xứ Ba Tư - chuẩn bị xâm lăng Scytie, đất nước tương ứng với một
số vùng của châu Âu và Châu Á sau này thuộc lãnh thổ của Liên Xô. Chiến binh Hy Lạp (đồng minh
của Ba Tư) được giao trách nhiệm gìn giữ cây cầu bắc qua sông Danube, trong lúc vua Ba Tư và đạo
quân của ông lên đường đi truy quyết người Scythie. Trước khi lên đường, Darius trao cho các sĩ quan
Hy lạp một dải da dài và hẹp có 60 cái nút trong lúc vắng ta. Khi nào các ngươi tháo tới cái nút cuối
cùng mà ta chưa trở về, các ngươi có thể rút lui “có thể xem đây là phương tiện tiện lợi để tính ngày.
Cái dải da đã đóng vai trò của một cái lịch. Như vậy, phương tiện để ghi chép sự kiện, để tính toán
hoặc gửi đi những thông điệp bằng những sợ dây nhiều màu, có thắt nút và dài ngắn khác nhau cũng
hình thành. Nổi tiếng nhất là cái Incas - tên gọi thổ dân thuộc đế quốc Quichua của người Incas - Tên
gọi thổ dân thuộc đế quốc Quichua ở Pérou vào khoảng thế kỷ thứ XVI trước C.N. Nhà nghiên cứu
Đặng Đức Siêu cho biết “tất cả những sợ dây có nút ấy được buộc vào một đoạn dây thừng to, nằm
ngang một Quipus có thể có tới hàng trăm dây, hàng nghìn nút. Màu sắc của dây, hình khối to nhỏ của
nút, độ dài ngắn của khoảng cách giữa các nút...đóng vai trò như các “con chữ” đảm nhiệm việc “ghi”
sự việc và thông báo tin tức theo qui ước “và” hiện nay người ta chỉ mới biết một vài điều sơ lược,
đại khái như sau: Quipus được dung trong việc tính toán, thống kê ghi lịch, ghi sự kiện, thông báo tin
tức v.v...Không những chúng biểu thị được số lượng (nhiều ít, bao nhiêu đơn vị...) mà còn biểu thị một
số ý niệm dựa trên qui ước, ví dụ như nút càng to, sự việc càng quan trọng, nút càng gần đoạn thừng
ngang, sự việc càng cấp bách. Nút dây màu đen tượng trưng cho sự chết chóc, đêm tối, kẻ địch bị giết.
Nút dây màu đỏ tượng trưng cho chiến tranh: Dây nút màu đỏ thắm được dung để nói về thủ lĩnh tối
cao. Nút dây màu trắng tượng trưng cho hòa bình, tương lai, nút dây màu vàng tượng trưng cho vàng,
nút dây màu xanh tượng trưng cho lương thực, ngũ cốc...theo tài liệu lịch sử và truyền thuyết còn lưu
lại, việc bện tết (tức ghi chép) và “đọc” (tức minh giải) các quipus này thuộc về một tầng lớp riêng
biệt được huấn luyện chu đáo, khá công phu, do một số đặc nhiệm đảm nhiệm.
Hình vẽ và dấu hiệu
Vào một ngày đẹp trời năm 1879, một nghiệp chủ người Tây Ban Nha khởi công thám hiểm một số
những hang đông. Theo chân ông còn có con gái là Maria. Đi sâu vào bóng tối, nhà thám hiểm, nhà
khảo cổ đặt xuống đất một cây đèn dầu mà ông đem theo và bắt đầu đào. Thỉnh thoảng ông nhặt lên một
hòn đá và cho vào túi xách. Và cũng thỉnh thoảng ông xem xét một cách chăm chú, dưới ánh đèn dầu,
một mãnh vở từ núi đá, hoặc một mẫu xương. Trong khi đó, Maria đã tỏ ra mệt mỏi khi phải nhìn cha
làm việc cật lực và cô bắt đầu dạo quanh đó, tuy nhiên vẫn không rời xa ánh sáng của ngọn đèn dầu.
Khám phá một đường dốc chật hẹp dọc theo vách đá, cô bước vào và nhìn quanh. Bỗng nhiên cô nhận
ra trên vách đá sần sùi những hình vẽ thể hiện các con vật dường như đang động đậy dưới ánh sáng
chập chờn, cô thảng thốt kêu lên:
- Ồ! Những con bò mộng! Cha ơi! Những con bò mộng...
Người cha đặt những dụng cụ của mình xuống đất và cầm đèn đến chỗ cô con gái. Maria lập lại giọng
sôi nổi:
- Lạ quá! Cha hãy nhìn xem những màu sắc kìa!
Người cha đưa cây đèn lên cao hết mức và đảo mắt nhìn quanh.
Trong tranh tối tranh sáng, quả nhiên ông nhìn thấy trên vách hang hình vẽ những con vật giống như
những con heo rừng khổng lồ và những con bò rừng bison - những con vật không còn tồn tại nữa tại
Tây Ban Nha từ nhiều thế kỷ nay. Do đó mà Don Marcelino de Sautuola và cô con gái Maria của ông
là những người đầ tiên khám phá ra những bức tranh có từ thời đồ đá.
Việc khám phá những bức tranh tiền sử đó đã đem lại tiếng tăm cho những hang động vùng Altamira ở
miền bắc Tây Ban Nha. Nhưng khám phá này có ý nghĩa gì?
Cách đây, hơn một thế kỷ, một nhà khảo cổ học lừng danhFlinders Petrie khám phá tại Ai Cập một
ngôi mộ cổ. Nó vẫn toàn vẹn trong khí hậu khô khốc của vùng này tiếp tục đào bới đoàn khảo cổ bắt
gặp nhiều món đồ gốm mang những dấu hiệu kỳ lạ. Trong nhiều năm liền, Petrie nghiên cứu những cái
bình đó với hy vọng xác định những con người - đã mất biệt từ thời nào xa xưa lắm - từng làm ra
chúng.
Nhờ hình dạng của những cái bình và những câu ghi trên đó, từng bước nhà khảo cổ Ai Cập ngược thời
gian tới thời tiền sử. Ông đã khám phá nền văn hóa thời tiền sử của những nhà nông và nhựng người
chăn cừu sống tại Ai Cập cả nước khi con người biết chữ viết. Trước Flinder Petrie, người ta mới chỉ
biết tới những hình ảnh tiền sử qua những hình vẽ trong hang động vùng Altamira. Một số đường rạch
và dấu vết tranh vẽ thỉnh thoảng còn được khám phá trên những hòn đá cuội dọc theo những con sông
của Pháp, Ý, Ailen và nhiều nơi khác. Những dấu hiệu đó xuất hiện từ 20.000 năm trước C.N. Một vài
nhà bác học nghĩ rằng chúng được dùng để xác định chủ nhân của những món đồ, như chúng ta ngày
nay vẫn ghi tên trên những quyển sách. Nhưng thật ra không ai biết đích xác chúng biểu thị cái gì.
Không phải lúc nào các nhà khảo cổ cũng khám phá ra ý nghĩa sâu xa của những món đồ tiền sử. Tuy
nhiên, các nhà bác học vẫn thành công trong việc xác định độ tuổi của nó và một vài điều cần thiết
khác. Đây là những thông tin quí báu liên quan đến đời sống con người tiền sử.
Qua những khám phá quan trọng trên, người ta thấy rằng, khi những nghệ sĩ thời nguyên thủy vẽ một
loạt hình ảnh, rất có thể chính họ cũng tìm cách kể lại một câu chuyện nào đó mà họ đã chứng kiến
trong cuộc đời mình. Và cũng nhờ đó mà ta mới hiểu được phần nào cuộc sống của những người xưa.
Tuy nhiên, thời gian càng trôi qua, cuộc sống càng phong phú hơn, những hình ảnh không thể hiện hết ý
mà người nghệ sĩ muốn nói.Vì thế mà chữ viết ra đời. Đây là mầm móng đầu tiên của toàn bộ của hệ
thống chữ viết sau này.
Một trong những hệ thống hình ảnh tốt nhất để truyền đạt ý tưởng đã phát sinh dọc theo sông Nil ở Ai
Cập, cách đây khoảng 5.000 năm. Chữ viết thể hiện bằng hình ảnh gần như được sử dụng khắp nơi.
Chữ tượng hình ấy đã được khám phá trên võ ốc, trên núi đá, trên vỏ cây và thậm chí trên cả những
mảnh da thú.
Muốn nói lên một ngọn núi, người nghệ sĩ có thể vẽ một hình răng cưa giản lược hoặc để biểu thị mặt
trời, họ có thể một hình tròn có tia như dưới đây:
Thế nhưng, dần dà con người lúc đó hiểu ra rằng loại chữ này không hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu
của mình. Làm sao có thể biểu thị một ý tưởng? Bằng cách nào có thể diễn tả nổi sợ, niềm vui hoặc
tình yêu? Bấy giờ, người nghệ sĩ phải giải quyết vấn đề bằng cách tạo ra kí hiệu ghi chú, tức là sự phối
hợp của những chữ tượng hình diễn tả một ý tưởng.
Khi thực hiện khả năng biểu thị một ý tưởng thì đó là một trong những tiến bộ quan trọng của lịch sử
chữ viết. Nhờ những kí hiệu ghi ý, người vẽ không chỉ thấy một đồ vật mà còn cho thấy một ý tưởng có
liên quan đến đồ vật đó. Chẳng hạn một chữ tượng hình đã cho thấy một ngọn núi và một chân người
như bên đây có thể đem lại một ý tưởng về một chuyến đi băng qua núi.
Cũng thế, một hình tròn biểu thị mặt trời có thể gợi ra ý tưởng về hơi nóng hoặc ánh sáng. Hoặc thậm
chí là thời gian ban ngày.
CHỮ TƯỢNG HÌNH ĐẦU THỜI KỲ SUMER
MỘT VÀI KÍ HIỆU GHI Ý
Của người Ai Cập
Của người Trung Quốc
Của người Sumer
CHỮ VIẾT TƯỢNG HÌNH
Tóm lại, ký hiệu hgi ý đã được tưởng tượng ra khoảng 2.000 năm trước C.N bởi các dân tộc nguyên
thủy trên thế giới. Đôi khi, cùng một kí hiệu ghi ý được tưởng tượng bởi những con người cách biệt
hàng ngàn cây số. Thí dụ: Một con mắt và một giọt lệ như hình vẽ bên đây:
đã biểu hiện sự
thống khổ hoặc nổi buốn của các dân tộc Maya hoặc Aztèque ở Trung Mỹ và thậm chí nó cũng được
người Trung Quốc sử dụng cùng một ý tưởng tường tự. Như vậy, ta có thể thấy rằng, chữ tượng hình
ghi ý có thể đảm đương nhiệm vụ trình bày và truyền đạt một số từ biểu thị những khái niệm trừu
tượng.
Thế nhưng, nó cũng gặp hạn chế là có những khái niệm không thể nào giải thích được bằng hình vẽ.
Hơn thế nữa, ngôn từ rất phong phú, theo thời gian nó phát triển không ngừng thì làm sao hình vẽ có
thể “sao chép” lại hết? Thật vậy, hình thức chữ viết bằng hình vẽ đã không thể nào xác định được mức
độ chính xác và đầy đủ mà người “viết” muốn biểu thị. Có câu chuyện kể lại rằng: Năm 516 trước C.N
Darius xâm lược nhiều nước, kể cả Scythie, họ đòi cuống nộp đất đai và nước uống để chúng minh
cho sức mạnh của quân đội Ba Tư. Trước đó không lâu, một người đưa tin - người Scythie đến, mang
theo “lá thư” gửi cho Darius là hình vẽ: Một con chim, một con chuột nhắt, một con ếch và năm mũi
tên. Khi được hỏi ý nghĩa của những món quà, người đưa tin nín thinh. Bấy giờ, người Ba Tư mới hội
ý với nhau. Theo Darius, thì đó là lễ vật của sự phục tùng. Nhưng Gobryas - viên tướng Ba Tư không
đồng ý và giải thích ý nghĩa của những món quà đó như sau: Người Ba Tư hãy cút đi! Nếu các ngươi
còn ở lại đây, các người sẽ vong mạng. Cho dù các ngươi có biến thành chim để bay lên trời, thành
chuột nhắt để lẫn trốn trong hang dưới lòng đất hoặc thành ếch nhái để tìm kiếm sự an toàn dưới đáy
nước thì những mũi tên của người Scythie cũng sẽ tiêu diệt các ngươi”. Lời giải thích này sau này đã
được chứng minh là chính xác.
Chính những hạn chế của chữ viết bằng hình vẽ mà chữ ghi âm ra đời. Nhà nghiên cứu Đặng Đức Siêu
cho biết: “Qua trực giác và kinh nghiệm hoạt động ngôn ngữ người xưa đã nhận thức được hiện tượng
đồng âm khác nghĩa của từ. Một cấu kết ngữ âm nhất định có thể hiện hàng loạt từ có ý nghĩa khác
nhau. Và rất may, trong hàng loạt từ này, thường bao giờ cũng có một số từ biểu đạt những vật thực thể,
hữu hình, có thể vẽ ra được, cũng có nghĩa là dễ dàng dùng từ tượng hình để biểu thị. Ta có thể thấy
được “vang bóng của hiện tượng này trong trò chơi đố chữ bằng hình vẽ. Người vẽ cái tháp (tour) và
cái mũi (nez) để biểu thị từ tourner có nghĩa là quay trở lại. Người Nhật vẽ cái búa (yoki), cây đàn cổ
(kota) và đóa hoa cúc (kiku) để biểu thị câu chăm ngôn “yoki koyo kiku” (nghe điều thiện) v. v...”
Cũng chính vì thế, người Ai Cập cổ xưa đã có thể dùng chữ tượng hình “con chim én” với âm đọc wz
để biểu thị một từ khác có ý nghĩa là to lớn cũng có âm đọc là wr; dùng chữ tượng hình “cái nhà” với
âm đọc là pr để biểu thị một động từ, động từ prj, có nghĩa là ra, đi ra v.v... Như vậy là, chữ hình vẽ
hoặc chữ tượng hình, ghi nhớ giờ đây chỉ được sử dụng ở một mặt: Mặt biểu thị âm đọc, còn ý nghĩa
của nó thì sẽ tùy ngữ cảnh mà xác định. Đây là một bước tiến có tính chất quyết định và có ý nghĩa vô
cùng lớn lao trên con đường đi tìm phượng tiện lưu trữ và chuyển vận lời nói. Trên cơ sở này nảy sinh
loại chữ viết xây dựng trên nguyên tắc mới, nguyên tắc ghi âm. Đó là loại ngữ ghi âm - loại chữ tiên
tiến nhất, có khả năng bám sát ngôn ngữ nói, có thể ghi lại mọi từ nhằm biểu thị vật thể, khái niệm, dù
có trừu tượng đến đâu chăng nữa. Từ đây chúng ta có thể nhìn lại, một cái tổng quát những bước tiến
nhất định mà chữ viết đã trải qua. Như chúng ta đã biết, mọi hệ thống chữ viết đều thoát thai từ hình
vẽ. Một hình vẽ, trong khuôn khổ chữ tượng hình, nó biểu thị bản thân vật thể được vẽ ra; đến giai
đoạn chữ ghi ý, bên cạnh việc biểu thị bản thân vật thể đó, nó còn biểu thị những ý nghĩa tìm tàng có
liên quan đến vật thể đó. Nhưng, sang đến giai đoạn chữ ghi âm, hình vẽ chỉ còn có giá trị biểu thị âm
đọc mà thôi. Và, về nguyên tắc, người ta có thể lựa chọn một số chữ tượng hình nhất định làm kí hiệu
ghi âm để ghi chép mọi từ trong ngôn ngữ nói, trên cơ sở cùng âm đọc thì viết giống nhau (tức là ghi
lại bằng cùng một kí hiệu) mặc dầu ý nghĩa rất khác nhau. Đó là ngữ âm tiết, ghi trọn vẹn âm đọc của
một từ (hoặc một bộ phận từ)”. Tất nhiên hành trình của việc sáng tạo ra chữ viết chưa dừng lại ở đó
mà nó còn những động tác tích cực khác nữa để ngày càng hoàn chỉnh hơn.
* Vậy chữ viết ra đời cách đây bao nhiêu năm?
Cách đây 5.000 năm! Trong một đền thờ tại thành phố Uruk, phía nam Bagdad, ngày nay người ta đã
phát hiện ra các tài liệu viết tay đầu tiên của nhân loại, viết bằng chữ tượng hình trên những tấm bảng
bằng đất sét. Do bằng chất liệu này nên chữ viết cũng ảnh hưởng theo, mà ta gọi là chữ hình góc. Khởi
thủy, tại vùng Mésoptamie (Lưỡng Hà), người Sumer đã thấy rằng, trên những món đồ gốm, lúc đất sét
còn ướt ta có thể vạch ra những chữ tượng hình để ghi lại dấu hiệu cần thiết.
Những dấu hiệu đó được khắc lên đất sét còn ướt bằng một đầu nhọn que sậy đã gọt hoặc bằng mũi
dao. Dụng cụ này để lại những dấu hiệu kì lạ hình góc, như hình vẽ bên đây:
Khi những dấu hiệu đã được khắc, người ta nung những phiến đất sét trong một cái lò của người thợ
hoặc phơi chúng ngoài nắng. Nhờ cách xử lý đó, đất sét trở nên cứng như đá, điều này giải thích tại
sao nhiều phiến đá nung mang chữ hình góc vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Một danh từ thông dụng,
chim chẳng hạn, ban dầu được biểu đạt bằng dấu hiệu:
Tiếp đến, trong nhiều năm dài, chữ viết tiến hóa và dấu hiệu trở thành
rồi đến
và cuối cùng
là
dấu hiệu trong đó mọi điểm giống với con chim đều biến mất và chỉ còn lại một biểu tượng
hoàn toàn trừu tượng để diễn tả ý tưởng về nó. Chữ viết hình gốc được được phần đông xã hội nguyên
thủy hiện hữu trong phần đất này của thế giới chấp nhận như chữ viết chính thức. Nền văn minh Sumer
kéo dài tới hơn 1.500 năm. Trong thời kỳ đó, chữ viết hình góc đã lan rộng tới tận tây Á. Hệ thống viết
đó được người Babylone, người Assyrie và người BaTư cho đến thời Jésus Christ sử dụng - nghĩa là
rất lâu sau khi đất nước Sumer ngưng tồn tại.
Nếu tại vùng Lưỡng Hà, Người Sumer viết lên đất sét vì vùng này đất đai màu mỡ do hai dòng sông
Tigre và Euphrate tạo nên; thì người Ai Cập cổ viết lên giấy vì học chế biến ra giấy từ loại cây sậy
mọc dọc theo sông Nil; Hoặc người Trung Quốc viết lên các thẻ tre, trên giấy...Như vậy, mỗi nền văn
minh đều chọn một chất liệu thích hợp để thể hiện chữ viết. Chữ viết đi qua một chặn đường dài, từ
Sumer đế thung lũng Silicon, chứng tỏ lịch sử các nền văn minh được liên kết chặt chẽ với mọi chất
liệu chứa chữ viết. Và cũng do thể hiện trên các chất liệu viết khác nhau, từ chổ viết trên đất sét đến
khi viết trên da thú, trên giấy thì chữ viết đã mếm mại hơn. Ngày nay, chữ viết đã đi vào thời kỳ kỹ
thuật số và được lưu vào đãi CD-ROM...
* Sự ra đời của bảng chữ cái như thế nào?
Vào khoảng năm 2.500 trước C.N người Ai Cập vẫn còn sử dụng chữ tượng hình cho những tài liệu
quan trọng nhất. Nhưng họ cũng đã phát minh ra một hình thức chữ viết rút gọn gọi là thần tự, trong đó
những hình thức tranh họa của chữa tượng hình được thu gọn thành dấu hiệu giản dị. Ban đầu thần tự
được ghi thành những hình trụ, về sau chúng thành những hàng nằm ngang và đi từ phải sang trái.
Thông thường chữ viết đó của người Ai Cập được sử dụng bởi những tăng lữ và giai cấp quí tộc. Dần
dà công việc làm ăn buôn bán phát triển, qua công viếc giao dịch làm ăn người ta nhận ra rằng loại
chữ tượng hình dù được rút gọn nhưng vẫn tốn công vẽ dài dòng và thường khi cũng khó mà đọc nổi
cho chính xác. Từ đó, một hình thức viết mới, còn nhanh gọn hơn nữa, chữ viết giản lược, được phát
minh vào khoảng thế kỷ VII trước C.N dành rộng rãi cho người bình dân.
Đúng như nhà nghiên cứu Đặng Đức Siêu đã viết: “Qua tay từng người, từng thế hệ và trong quá trình
lan tỏa từ nơi này sang nơi khác, chữ viết ở các quốc gia cổ xưa ấy dần dần biến đổi. Xu hướng chung
là: Giảm bớt những chi tiết rườm rà, xác định rõ hơn hệ thống và nhích đến nguyên tắc ghi âm. Viết dễ
hơn, nhanh hơn, ghi đầy đủ hơn mọi hoạt động lời nói của con người - đó là mục đích chân xác mà
những con người sáng tạo ra chữ viết, đồng thời cũng là những con người sáng tạo ra nền văn háo huy
hoàng được lưu ký một phần trong chữ viết, muốn đạt tới”.
“Tuy vậy, ở Ai Cập, chữ viết đã dừng lại ở giai đoạn tượng hình - ghi ý hàng mấy chục thế kỷ. Rất
nhiều điều kiện thuận lợi cho việc cải tiến triệt để hệ thống văn tự này đã xuất hiện; thậm chí, cả một
hệ thống ghi âm tố đã xuất hiện gần như hoàn chỉnh. Nhưng Ai Cập đã bỏ qua cơ hội quí báu ấy. Thay
vì mạnh dạn tiến thẳng sang hệ thống văn tự ghi âm, gọn gàng và tiện lợi, tính khoa học và tính chuẩn
xác đều cao, chữ viết Ai cập đã rẽ ngang con đường nửa ghi âm - nửa ghi ý, với những ký hiệu tượng
hình rườm rà, phức tạp, phải vẽ từng chữ một, rất tốn thời gian và sức lực”. Cũng vì vậy, vai trò hình
thành bảng chữ cái chung cho tất cả hệ thống chữ viết ngày nay - trừ thời Trung Quốc - lại thuộc về
người Phénicie. Cho dù các hệ thống chữ viết có v...
 






Các ý kiến mới nhất