Truyền thống Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Tài liệu giới thiệu Luật Thư viện

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Thị Hương
Ngày gửi: 15h:29' 16-11-2024
Dung lượng: 798.8 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Thị Hương
Ngày gửi: 15h:29' 16-11-2024
Dung lượng: 798.8 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
BỘ TƯ PHÁP
VỤ PHÁP CHẾ
VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
_______________
__________________________
TÀI LIỆU GIỚI THIỆU LUẬT THƯ VIỆN
Ngày 21 tháng 11 năm 2019, tại Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá XIV đã thông
qua Luật Thư viện số 46/2019/QH14. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng
7 năm 2020. Pháp lệnh Thư viện số 32/2000/PL-UBTVQH10 hết hiệu lực kể từ
ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
I. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG LUẬT, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN SỰ
NGHIỆP THƯ VIỆN VÀ VĂN HÓA ĐỌC
1. Quan điểm xây dựng Luật Thư viện
1.1. Tiếp tục thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước trên tinh thần hoàn thiện thể chế về thư viện, cụ thể hóa Hiến
pháp năm 2013 về quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân trong
lĩnh vực văn hóa, kinh tế, xã hội, bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật
hiện hành và tính khả thi trong thực tiễn.
1.2. Khẳng định vai trò của thư viện trong phát triển văn hoá, khoa học,
giáo dục của đất nước, góp phần nâng cao dân trí, xây dựng xã hội học tập ở
Việt Nam; mở rộng chức năng và hoạt động của thư viện nhằm tăng cường năng
lực cung ứng dịch vụ công song hành với tăng cường tính tự chủ của thư viện.
1.3. Việc xây dựng Luật Thư viện phải trên cơ sở luận cứ khoa học và
tổng kết thực tiễn thi hành; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của một số nước
trong khu vực và trên thế giới, vận dụng phù hợp với thông lệ và cam kết quốc
tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia; kế thừa các quy định còn phù hợp với
Pháp lệnh Thư viện và các văn bản hướng dẫn thi hành đã được kiểm nghiệm
qua thực tiễn, đồng thời bảo đảm điều chỉnh kịp thời các quan hệ mới phát sinh
trong hoạt động thư viện; đơn giản hóa các thủ tục hành chính về điều kiện, thủ
tục thành lập thư viện, tạo sự thông thoáng nhằm thúc đẩy sự nghiệp thư viện
phát triển.
1.3. Thúc đẩy việc đa dạng hóa các loại hình thư viện, khuyến khích các tổ
chức, cá nhân tham gia hoạt động thư viện, đẩy mạnh xã hội hóa để phát huy các
nguồn lực trong xã hội, tạo điều kiện cho người dân có thêm cơ hội tiếp cận
thông tin, tri thức phục vụ học tập suốt đời.
2. Chính sách của Nhà nước trong việc phát triển sự nghiệp thư viện
và phát triển văn hóa đọc
Luật Thư viện cụ thể hóa các chính sách của Nhà nước về phát triển sự
nghiệp thư viện và phát triển văn hóa đọc, bao gồm:
- Đa dạng hóa các loại hình thư viện nhằm đẩy mạnh xã hội hóa để phát
huy các nguồn lực, tài nguyên thông tin tạo điều kiện cho người dân có thêm cơ
hội để tiếp cận thông tin, tri thức.
- Phát triển loại hình thu viện số, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân được
tiếp cận và sử dụng tài nguyên thông tin ở mọi nơi, mọi lúc.
- Bảo đảm tính minh bạch, cơ chế xử lý toàn diện đối với thư viện và bảo
vệ tài nguyên thông tin thư viện thông qua các điều kiện thành lập, hợp nhất,
chia tách, sáp nhập, giải thể, chấm dứt hoạt động thư viện.
- Mở rộng chức năng và hoạt động của thư viện công lập nhằm tăng cường
năng lực cung ứng dịch vụ công của thư viện phục vụ nhu cầu học tập, nghiên
cứu và giải trí của nhân dân.
II. BỐ CỤC, NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT THƯ VIỆN
1. Bố cục của Luật Thư viện
Luật Thư viện bao gồm: 06 chương, 52 điều với bố cục như sau:
- Chương 1: Quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 8);
- Chương 2: Thành lập thư viện (từ Điều 9 đến Điều 23);
- Chương 3: Hoạt động thư viện (từ Điều 24 đến Điều 37);
- Chương 4: Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong hoạt đông thư viện (từ Điều 38 đến Điều 47);
- Chương 5: Trách nhiệm quản lý nhà nước về thư viện (từ Điều 48 đến
Điều 50);
- Chương 6: Điều khoản thi hành (Điều 51 và 52).
2. Nội dung cơ bản và những điểm mới của Luật Thư viện
2.1. Chương I. Quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 8)
a) Về phạm vi điều chỉnh
So với Pháp lệnh Thư viện, Luật Thư viện mở rộng phạm vi điều chỉnh,
quy định về thành lập, hoạt động thư viện; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thư viện; quản lý nhà nước về thư
viện; bổ sung đối tượng áp dụng: tổ chức cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân
nước ngoài hoạt động thư viện hoặc có liên quan đến hoạt động thư viện trên
lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Luật Thư viện giải thích 07 thuật ngữ thư viện bao gồm: Thư viện, thư viện
số, tài nguyên thông tin, tài nguyên thông tin mở, tiện ích thư viện, dịch vụ thư
2
viện, liên thông thư viện. Các thuật ngữ này được xây dựng bảo đảm tính thống
nhất trong cách hiểu, gắn với xu thế phát triển của thư viện hiện đại và bảo đảm
tính thực thi trong thực tiễn.
b) Chức năng, nhiệm vụ của thư viện
Xác định chức năng nhiệm vụ của thư viện (Điều 4) với 04 chức năng,
nhiệm vụ cơ bản áp dụng với tất cả các loại thư viện Việt Nam trên cơ sở khẳng
định vai trò của thư viện trong phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học của đất
nước với các chức năng: Xây dựng, xử lý, lưu giữ, bảo quản, kết nối và phát
triển tài nguyên thông tin phù hợp với người sử dụng thư viện; Tổ chức sử dụng
chung tài nguyên thông tin, sản phẩm và dịch vụ thư viện góp phần truyền bá tri
thức của dân tộc và nhân loại; phục vụ nhu cầu học tập; giải trí; góp phần hình
thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực của người sử dụng
thư viện; Phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng. Mặt khác, nhằm tăng cường
hiện đại hóa thư viện, Luật đã bổ sung chế định về ứng dụng thành tựu khoa học
và công nghệ, hiện đại hóa thư viện như một nội dung bắt buộc đối với các loại
thư viện.
c) Chính sách của Nhà nước về phát triển thư viện (Điều 5) và xã hội hóa
trong hoạt động thư viện (Điều 6)
Luật Thư viện xác định chính sách của Nhà nước về phát triển sự nghiệp
thư viện và xã hội hóa trong hoạt động thư viện ở 03 cấp độ, cụ thể là:
Thứ nhất, Nhà nước đầu tư cho thư viện công lập, cụ thể là: (1) Đầu tư
trọng điểm cho Thư viện Quốc gia Việt Nam, thư viện cấp tỉnh và một số thư
viện có vai trò quan trọng; (2) Đầu tư cho một số hoạt động thư viện như: hiện
đại hóa thư viện; xây dựng thư viện số, tài nguyên thông tin dùng chung, tài
nguyên thông tin mở; liên thông thư viện trong nước và nước ngoài. Sưu tầm,
bảo quản và phát huy giá trị tài liệu cổ, quý hiếm, các bộ sưu tập tài liệu có giá
trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học. Tổ chức dịch vụ thư viện lưu động,
luân chuyển tài nguyên thông tin phục vụ khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng
bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, đặc biệt khó
khăn. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực và phát triển nguồn nhân lực thư
viện. Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến trong
hoạt động thư viện.
Thứ hai, Nhà nước hỗ trợ đầu tư, bao gồm: Cung cấp dịch vụ công trong
lĩnh vực thư viện, phát triển văn hóa đọc; Duy trì và phát triển thư viện cộng
đồng, thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng; Cước vận chuyển tài liệu thư viện
phục vụ nhiệm vụ chính trị, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, đặc biệt
khó khăn, biên giới, hải đảo; Hợp tác quốc tế về thư viện.
3
Thứ ba, Nhà nước khuyến khích xã hội hóa hoạt động thư viện. Nội dung
này được cụ thể hóa tại Điều 6 của Luật, theo đó cộng đồng dân cư, tổ chức, cá
nhân được tạo điều kiện để đầu tư, tài trợ, viện trợ, đóng góp phát triển sự
nghiệp thư viện, văn hoá đọc, xây dựng và phát huy không gian đọc, phòng đọc
cơ sở và được hưởng các ưu đãi, được ghi nhận và vinh danh theo quy định của
pháp luật.
d) Tài nguyên thông tin hạn chế sử dụng trong thư viện (Điều 7)
Đây là chế định mới được bổ sung quy định tài nguyên thông tin hạn chế sử
dụng trong thư viện trên tinh thần quyền con người, quyền công dân chỉ có thể
bị hạn chế theo quy định của luật theo quy định của Hiến pháp năm 2013. Nội
dung cụ thể về tài nguyên thông tin hạn chế sử dụng, nguyên tắc sử dụng tài
nguyên thông tin hạn chế sử dụng trong thư viện được giao cho Bộ trưởng Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định.
đ) Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thư viện (Điều 8)
Luật Thư viện kế thừa các quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong Pháp
lệnh Thư viên năm 2000, đồng thời bổ sung một số hành vi mới liên quan đến
triển khai xây dựng thư viện số để ngăn ngừa và có cơ sở xử lý các hành vi vi
phạm. Các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm: Lợi dụng hoạt động thư viện để
xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống lại Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc;
kích động bạo lực, gây thù hằn giữa các dân tộc, tôn giáo; tuyên truyền chiến
tranh xâm lược; phá hoại thuần phong mỹ tục; truyền bá mê tín; lôi kéo người sử
dụng thư viện vào các tệ nạn xã hội; cung cấp tài nguyên thông tin thuộc bí mật
của Nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; hạn chế quyền tiếp
cận và sử dụng tài nguyên thông tin của người sử dụng thư viện trái với quy
định của pháp luật, cung cáp thông tin về người sử dụng thư viện, trừ trường
hợp theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chiếm dụng, đánh tráo,
hủy hoại, làm hư hỏng tài nguyên thông tin; xâm nhập trái phép vào hệ thống
thông tin thư viện, cơ sở dữ liệu thư viện; làm sai lệch, gián đoạn hoặc phá hoại
hệ thống thông tin thư viện, cơ sở dữ liệu thư viện.
2.2. Chương II. Thành lập thư viện (từ Điều 9 đến Điều 23)
Chương này được phân thành 02 mục, Mục 1 quy định về về mạng lưới thư
viện (từ Điều 9 đến Điều 17) và Mục 2 quy định về thành lập, sáp nhập, hợp
nhất, chia, tách, giải thể thư viện (từ Điều 18 đến Điều 23) đã thiết lập mạng
lưới thư viện trên toàn lãnh thổ Việt Nam trên tinh thần đa dạng hóa các loại thư
viện, kiện toàn củng cố thư viện công lập, đẩy mạnh xã hội hóa, phát triển thư
viện ngoài công lập.
a) Các loại thư viện
4
Luật Thư viện quy định các loại thư viện ở Việt Nam bao gồm: Thư viện
Quốc gia Việt Nam, Thư viện công cộng, Thư viện chuyên ngành, Thư viện lực
lượng vũ trang nhân dân, Thư viện cơ sở giáo dục đại học, Thư viện cơ sở giáo
dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở
giáo dục khác, Thư viện cộng đồng và thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng và
Thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt Nam. Các loại
thư viện này được tổ chức theo 02 mô hình đó là: Thư viện công lập và Thư viện
ngoài công lập.
Trên cơ sở xác định các loại thư viện, Luật đã quy định cụ thể về chức
năng, nhiệm vụ của từng loại thư viện. Theo đó, ngoài các chức năng, nhiệm vụ
chung được quy định tại Điều 4 của Luật, tương ứng với mỗi loại thư viện, Luật
có những quy định phù hợp với đặc thù của từng loại thư viện trên tinh thần kiện
toàn hệ thống thư viện, đẩy mạnh xã hội hóa, tạo hành lang pháp lý để các thư
viện phát huy vai trò của mình trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin,
hưởng thụ các giá trị văn hóa, học tập suốt đời và phát triển văn hóa đọc trong
cộng đồng.
- Thư viện Quốc gia Việt Nam (Điều 10)
Thư viện Quốc gia Việt Nam là thư viện trung tâm của cả nước.
Thư viện Quốc gia Việt Nam thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định tại
Điều 4 của Luật này và các chức năng, nhiệm vụ sau đây: (i) Tiếp nhận, bảo
quản, lưu giữ vĩnh viễn xuất bản phẩm, ấn phẩm báo chí được xuất bản tại Việt
Nam theo quy định của pháp luật; luận án tiến sĩ của công dân Việt Nam bảo vệ
ở trong nước và nước ngoài; luận án tiến sĩ của người nước ngoài bảo vệ tại Việt
Nam; (ii) Bổ sung và phổ biển tài liệu về Việt Nam, tài liệu tiêu biểu của nước
ngoài; (iii) Xây dựng hệ thống thông tin thư mục quốc gia; chủ trì, phối hợp với
thư viện của các Bộ, ngành và thư viện khác trong nước xây dựng Tổng mục lục
Việt Nam; công bố, chia sẻ thông tin thư mục quốc gia, tài nguyên thông tin số
cho thư viện có nhu cầu, trừ tài nguyên thông tin hạn chế sử dụng theo quy định
của Luật này và pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, tiếp cận thông tin, lưu trữ;
(iv) Nghiên cứu khoa học thông tin thư viện; (v) Thực hiện biên mục tập trung;
chủ trì, phối hợp với các thư viện xây dựng và phát triển cơ sở dữ liệu toàn văn,
thư viện số; (vi) Hợp tác, trao đổi tài nguyên thông tin với thư viện trong nước
và nước ngoài; tham gia diễn đàn, tổ chức xã hội - nghề nghiệp về thư viện theo
quy định của pháp luật; (vii) Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho các thư
viện trong cả nước theo phân công và thực hiện nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao.
- Thư viện công cộng (Điều 11)
Thư viện công cộng là thư viện có tài nguyên thông tin tổng hợp phục vụ
Nhân dân, gồm thư viện cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, thực hiện chức năng,
5
nhiệm vụ quy định tại Điều 4 của Luật. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định chức
năng, nhiệm vụ cụ thể của từng cấp thư viện công cộng như sau:
Thư viện cấp tỉnh: (i) Thu thập tài liệu cổ, quý hiếm; tài nguyên thông tin
về tiếng nói, chữ viết của người dân tộc thiểu số; tài nguyên thông tin của địa
phương và về địa phương; (ii) Xây dựng cơ sở dữ liệu, thư viện số về địa
phương; phổ biến tài nguyên thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa
phương; (iii) Hỗ trợ, hướng dẫn, trang bị kỹ năng tìm kiếm, khai thác và sử dụng
thông tin cho người sử dụng thư viện; (iv) Tổ chức khu vực đọc phục vụ trẻ em,
người khuyết tật; (v) Tham gia xây dựng thư viện công cộng huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây
gọi là thư viện cấp huyện), thư viện công cộng xã, phường, thị trấn (sau đây gọi
là thư viện cấp xã); (vi) Tổ chức thư viện lưu động, luân chuyển tài nguyên
thông tin, tiện ích thư viện; (vii) Tổ chức triển lãm và hoạt động khác nhằm phát
triển văn hóa đọc; (viii) Thực hiện liên thông với thư viện trong nước và nước
ngoài;(ix) Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho thư viện trên địa bàn theo
phân công và thực hiện nhiệm vụ khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
giao.
Thư viện cấp huyện: (i) Tiếp nhận tài nguyên thông tin, tiện ích thư viện từ
thư viện cấp tỉnh; (ii) Luân chuyển tài nguyên thông tin đến thư viện trên địa
bàn; (iii) Tổ chức hoạt động phục vụ nhu cầu học tập suốt đời của Nhân dân trên
địa bàn; (iv) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao.
Thư viện cấp xã: (i) Tiếp nhận tài nguyên thông tin, tiện ích thư viện từ thư
viện cấp tỉnh, thư viện cấp huyện và các nguồn hợp pháp khác; (ii) Luân chuyển
tài nguyên thông tin đến thư viện cộng đồng, thư viện tư nhân có phục vụ cộng
đồng trên địa bàn; (iii) Tham gia xây dựng văn hóa đọc, hình thành thói quen
đọc cho Nhân dân trên địa bàn; (iv) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền giao.
- Thư viện chuyên ngành (Điều 12)
Thư viện chuyên ngành là thư viện có tài nguyên thông tin chuyên sâu về
một ngành, lĩnh vực hoặc nhiều ngành, lĩnh vực phục vụ cán bộ, công chức, viên
chức, người lao động của cơ quan, tổ chức chủ quản.
Thư viện chuyên ngành gồm thư viện của cơ quan nhà nước; thư viện của
tổ chức khoa học và công nghệ; thư viện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; thư viện của tổ chức kinh
tế.
Thư viện chuyên ngành có chức năng, nhiệm vụ cụ thể sau đây: (i) Phát
triển tài nguyên thông tin phù hợp với chuyên ngành phục vụ; tiếp nhận, bổ sung
và tổ chức khai thác tài nguyên thông tin từ hoạt động nghiên cứu, công bố khoa
6
học, tài liệu hội nghị, hội thảo, báo cáo nghiên cứu, khảo sát của cán bộ nghiên
cứu, cơ quan, tổ chức chủ quản và đề án, dự án, tạp chí chuyên ngành của cơ
quan, tổ chức chủ quản; (ii) Xây dựng cơ sở dữ liệu, thư viện số chuyên ngành
nội sinh; bổ sung và mua quyền truy cập tài nguyên thông tin chuyên ngành
nước ngoài; (iii) Thực hiện liên thông với thư viện trong nước và nước ngoài;
(iv) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ quan, tổ chức chủ quản giao.
- Thư viện lực lượng vũ trang nhân dân (Điều 13)
Thư viện lực lượng vũ trang nhân dân là thư viện của các đơn vị Quân đội
nhân dân và Công an nhân dân, có tài nguyên thông tin tổng hợp, chuyên ngành
quốc phòng, an ninh phục vụ cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân trên địa bàn, người
đang chấp hành hình phạt tù, học tập, cải tạo trong cơ sở giam giữ, trường giáo
dưỡng.
Thư viện lực lượng vũ trang nhân dân có chức năng, nhiệm vụ cụ thể sau
đây: (i) Phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ được giao;
tiếp nhận, bổ sung và tổ chức khai thác tài nguyên thông tin chuyên ngành quốc
phòng, an ninh trong nước và nước ngoài; tài liệu hội nghị, hội thảo, báo cáo
nghiên cứu, khảo sát và đề án, dự án, tạp chí chuyên ngành của lực lượng vũ
trang nhân dân theo quy định; (ii) Xây dựng cơ sở dữ liệu, thư viện số chuyên
ngành nội sinh; bổ sung và mua quyền truy cập tài nguyên thông tin chuyên
ngành quốc phòng, an ninh; (iii) Thực hiện liên thông giữa các thư viện trong
cùng hệ thống, chia sẻ tài nguyên thông tin với thư viện trong nước và nước
ngoài; (iv) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ quan chủ quản giao.
- Thư viện đại học (Điều 14)
Thư viện đại học là thư viện có tài nguyên thông tin phục vụ người học và
người dạy trong cơ sở giáo dục đại học. Thư viện đại học có chức năng, nhiệm
vụ cụ thể sau đây: (i) Phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với mục tiêu, nội
dung, chương trình, lĩnh vực, ngành đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ của cơ sở giáo dục đại học; (ii) Tiếp nhận, bổ sung và tổ chức khai
thác khóa luận, đề án, luận văn, luận án, kết quả nghiên cứu khoa học của người
học và người dạy trong cơ sở giáo dục đại học; xây dụng tài liệu nội sinh, cơ sở
dữ liệu học liệu, tài nguyên học liệu mở; (iii) Tổ chức không gian đọc; hướng
dẫn sử dụng sản phẩm thư viện và dịch vụ thư viện; hoàn thiện kỹ năng tìm
kiếm, khai thác và sử dụng thông tin; củng cố, mở rộng kiến thức cho người học,
người dạy và cán bộ quản lý; (iv) Thực hiện liên thông với thư viện trong nước
và nước ngoài; (v) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ sở giáo dục đại học giao.
- Thư viện cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo
dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục khác (Điều 15)
7
Thư viện cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo
dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục khác là thư viện có tài nguyên thông tin phục
vụ người học và người dạy trong cơ sở giáo dục.
+ Thư viện cơ sở giáo dục mầm non có chức năng, nhiệm vụ cụ thể sau
đây:Phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với độ tuổi, tâm lý của trẻ em mầm
non; nhu cầu thông tin, tài liệu của người dạy, cán bộ quản lý và chương trình
giáo dục của cơ sở giáo dục; tổ chức hoạt động làm quen với sách và hình thành
thói quen đọc của trẻ em mầm non; hướng dẫn sử dụng thư viện, trang bị kỹ
năng tìm kiếm, khai thác, sử dụng thông tin cho người dạy và cán bộ quản
lý;thực hiện nhiệm vụ khác do cơ sở giáo dục giao.
+ Thư viện cơ sở giáo dục phổ thông có chức năng, nhiệm vụ cụ thể sau
đây:Phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với nhu cầu học tập, nghiên cứu của
người học, người dạy, cán bộ quản lý và mục tiêu, nội dung, chương trình học
tập, giảng dạy của từng cấp học, chương trình học; tổ chức hoạt động khuyến
đọc, hình thành thói quen, kỹ năng đọc của người học; hướng dẫn sử đụng thư
viện, trang bị kỹ năng tìm kiếm, khai thác, sử dụng thông tin cho người học,
người dạy và cán bộ quản lý; hỗ trợ việc học tập, giảng dạy, nghiên cứu và tổ
chức các hoạt động giáo dục khác; thực hiện nhiệm vụ khác do cơ sở giáo dục
giao.
+ Thư viện cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục khác có chức
năng, nhiệm vụ cụ thể sau: Phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với nhu cầu
học tập, nghiên cứu của người học, người dạy, cán bộ quản lý và mục tiêu, nội
dung, chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục; tổ chức hoạt động khuyến đọc;
hướng dẫn sử dụng thư viện, trang bị kỹ năng tìm kiếm, khai thác, sử dụng
thông tin cho người học, người dạy và cán bộ quản lý; thực hiện nhiệm vụ khác
do cơ sở giáo dục giao.
- Thư viện cộng đồng và thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng (Điều 16)
+ Thư viện cộng đồng là thư viện, có tài nguyên thông tin tổng hợp do cộng
đồng dân cư thành lập tại trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm văn hóa, thể
thao xã, phường, thị trấn; điểm bưu điện văn hóa xã; nhà văn hóa thôn, ấp, bản,
làng, buôn, phum, sóc; khu chung cư; nơi sinh hoạt chung của cộng đồng.
+ Thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng là thư viện có tài nguyên thông
tin tổng hợp hoặc chuyên ngành do tổ chức, cá nhân Việt Nam thành lập, tự bảo
đảm kinh phí hoạt động.
+ Thư viện cộng đồng và thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng có chức
năng, nhiệm vụ cụ thể sau đây: Cung cấp tài nguyên thông tin cho Nhân dân trên
địa bàn; tiếp nhận tài nguyên thông tin luân chuyển từ thư viện công cộng các
cấp để phục vụ Nhân dân; tổ chức hoạt động thư viện theo nội dung đã thông
8
báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền; xây dựng và tham gia phát triển văn
hóa đọc cho Nhân dân trên địa bàn.
- Thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt Nam
(Điều 17)
Thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt Nam là
thư viện có tài nguyên thông tin tổng hợp, chuyên ngành do tổ chức, cá nhân
nước ngoài thành lập tại Việt Nam; tự bảo đảm kinh phí hoạt động; hoạt động
theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liền quan.
Thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt Nam tổ
chức hoạt động thư viện theo nội dung đã thông báo cho cơ quan nhà nước có
thẩm quyền; tham gia phát triển văn hóa đọc.
b) Thành lập, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể thư viện (Mục 2)
Trên cơ sở xác định các loại thư viện, Luật đã quy định về thành lập, sáp
nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể thư viện. Theo đó, Luật quy định cụ thể 04
điều kiện thành lập thư việnvề mục tiêu, đối tượng phục vụ, tài nguyên thông tin
phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm phục vụ
hoạt động thư viện; người làm công tác thư viện có chuyên môn, nghiệp vụ phù
hợp với hoạt động thư viện và giao Chính phủ quy định chi tiết về điều kiện
thành lập thư viện.
Cũng tại Mục này, Luật đã quy định về việc thành lập thư viện công lập
(Điều 19); thành lập thư viện ngoài công lập (Điều 20); sáp nhập, hợp nhất, chia,
tách, giải thể thư viện (Điều 21). Đây là những chế định góp phần kiện toàn,
củng cố mạng lưới thư viện công lập, khuyến khích thành lập thư viện ngoài
công lập, đồng thời cụ thể hóa quyền về tổ chức cá nhân trong việc tham gia
thành lập thư viện, phục vụ học tập suốt đời và phát triển văn hóa đọc trong
cộng đồng. Đồng thời, Luật đã thiết lập cơ chế bảo vệ tài nguyên thông tin, một
trong những tài sản quan trọng của quốc gia trong trường hợp thư viện thực hiện
việc sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể thư viện. Chế định này có ý nghĩa
quan trọng bảo đảm tính kế thừa trong hoạt động thư viện cũng như bảo đảm
quyền được tiếp cận thông tin, tri thức của người dân trong trường hợp thư viện
có những biến động.
Một điểm mới của Luật Thư viện so với Pháp lệnh Thư viện đó là việc quy
định chế tài trong trường hợp thư viện thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật
về thư viện và các quy định của pháp luật khác có liên quan thông qua chế định
về đình chỉ, chấm dứt hoạt động thư viện (Điều 22). Nội dung về trình tự, thủ
tục đình chỉ, chấm dứt hoạt động thư viện được giao cho Chính phủ quy định chi
tiết.
9
Nhằm tiến tới đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động thư viện,
khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập thư viện cộng đồng, thư viện tư nhân có
phục vụ cộng đồng, Luật đã sử dụng thông báo việc thành lập, sáp nhập, hợp
nhất, chia, tách, giải thể, chấm dứt hoạt động thư viện thay cho việc đăng ký
hoạt động thư viện được quy định tại Điều 23 của Luật. Theo đó, tổ chức cá
nhân có thẩm quyền, thành lập, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, chấm dứt
hoạt động thư viện phải thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải
có văn bản trả lời của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi hoạt động.
2.3. Chương III. Hoạt động thư viện (từ Điều 24 đến Điều 37)
a) Nguyên tắc hoạt động thư viện
Luật đã xây dựng các nguyên tắc hoạt động thư viện (Điều 24) với những
nội dung cơ bản có liên quan đến việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của
người dân, tạo lập môi trường bình đẳng, lấy người sử dụng làm trung tâm; việc
triển khai các hoạt động thư viện trên tinh thần tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia và chuẩn nghiệp vụ liên quan trong lĩnh vực thư viện; đổi mới
sáng tạo về quy trình, sản phẩm thông tin, dịch vụ thư viện trên cơ sở ứng dụng
thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến; liên thông thư viện; tuân thủ quy
định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, khoa học và công nghệ, công nghệ nghệ
thông tin, an ninh mạng và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trên cơ sở quy định các nguyên tắc hoạt động thư viện Luật đã quy định cụ
thể các hoạt động thư viện nhằm chuẩn hóa và hiện đại hóa quy trình hoạt động
thư viện với các hoạt động cơ bản mà các thư viện phải triển khai như:
b) Xây dựng tài nguyên thông tin (Điều 25)
Luật quy định về phát triển và thanh lọc tài nguyên thông tin, Luật cũng
xác định các phương thức phát triển tài nguyên thông tin bao gồm: bổ sung, mua
tài nguyên thông tin và quyền truy cập cơ ở dữ liệu, tài nguyên thông tin số, thu
thập tài nguyên thông tin mở, tài nguyên thông tin thuộc về công chúng, tài
nguyên thông tin có giá trị; liên thông trao đổi tài nguyên thông tin; chuyển dạng
số hóa tài nguyên thông tin; tiếp nhận tài nguyên thông tin do tổ chức, cá nhân
trong nước và nước ngoài chuyển giao, tài trợ, viện trợ, tặng, cho, đóng góp.
Việc thanh lọc tài nguyên thông tin được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
c) Xử lý tài nguyên thông tin và tổ chức hệ thống tra cứu thông tin (Điều
26) với các quy định về xử lý tài nguyên thông tin theo tinh thần tài nguyên
thông tin sau khi bổ sung vào thư viện phải được xử lý theo quy trình nghiệp vụ,
thực hiện biên mục sao chép, áp dụng kết quả xử lý tài nguyên thông tin của các
thư viện có vai trò quan trọng để bảo đảm chính xác, thống nhất và tiết kiệm.
10
Việc tổ chức hệ thống tra cứu thông tin phải bảo đảm lưu trữ an toàn kết quả xử
lý tài nguyên thông tin, bảo đảm cập nhật, dễ sử dụng.
d) Bảo quản tài nguyên thông tin (Điều 27) được thực hiện đối với toàn bộ
tài nguyên thông tin trong quá trình lưu giữ và phục vụ, bảo đảm an toàn thông
tin phục vụ cho việc quản lý, tra cứu và sử dụng; thực hiện các hình thức bảo
quản dự phòng, phục chế hoặc chuyển dạng tài liệu; tài nguyên thông tin số phải
được sao lưu định kỳ và phải có cơ chế khôi phục dữ liệu khi cần thiết; bảo đảm
tính tương thích về mặt công nghệ; tài nguyên thông tin là di sản văn hóa, tài
nguyên thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước phải được bảo quản theo quy
định của pháp luật về di sản văn hóa, lưu trữ, bảo vệ bí mật nhà nước. Các nội
dung này sẽ được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định cụ thể.
e) Tạo lập, cung cấp sản phẩm thông tin thư viện và dịch vụ thư viện (Điều
28) với các quy định bảo đảm cho việc tạo lập, cung cấp sản phẩm thông tin thư
viện và dịch vụ thưu viện khoa học, hiện đại, hiệu quả, phù hợp với chức năng,
nhiệm vụ của thư viện và nhu cầu của người sử dụng, bảo đảm sự đa dạng về
hình thức, phương thức cung cấp sản phẩm thông tin thư viện và dịch vụ thư
viện. Tại Điều này, Luật đã xác định các loại hình sản phẩm thông tin thư viện
và dịch vụ thư viện cần được triển khai tại thư viện để đáp ứng nhu cầu của
người sử dụng và xã hội.
f) Liên thông thư viện (Điều 29) là một trong những quy định mới, có tính
cách mạng trong hoạt động thư viện, tạo điều kiện để các thư viện liên thông,
liên kết đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. Luật đã quy định các nội dung liên
thông thư viện, phương thức liên thông và cơ chế liên thông, theo đó, Thư viện
được Nhà nước ưu tiên đầu tư làm nòng cốt trong xây dựng, chia sẻ và khai thác
tài nguyên thông tin dùng chung giữa các thư viện, hợp tác trong việc bổ sung,
mua quyền truy cập và chia sẻ tài nguyên thông tin nước ngoài, sử dụng hiệu
quả nguồn kinh phí của Nhà nước và xã hội; tài nguyên thông tin được xây dựng
từ ngân sách nhà nước phải được liên thông, chia sẻ giữa các thư viện, các nội
dung này sẽ được Chính phủ quy định chi tiết.
g) Các nội dung khác
Ngoài các nội dung có tính chất chuyên môn, nghiệp vụ, Luật đã bổ sung
một số hoạt động phù hợp với xu thế phát triển thư viện hiện đại, tạo điều kiện
để các thư viện có thể mở rộng hoạt động, tận dụng các nguồn lực sẵn có, ứng
dụng công nghệ thông tin, tăng cường liên thông, liên kết để phát triển, đáp ứng
nhu cầu của người sử dụng như:
- Phát triển văn hóa đọc (Điều 30) với việc lấy ngày 21 tháng 4 hàng năm
là ngày sách và Văn hóa đọc Việt Nam đồng thời quy định nội dung về phát
triển văn hóa đọc góp phần hình thành thói quen, phương pháp, kỹ năng đọc, tìm
11
kiếm khai thác và sử dụng thông tin, mở rộng tri thức cho người sử dụng thư
viện.
- Phát triển thư viện số (Điều 31) với các quy định về xây dựng tài nguyên
thông tin số, thực hiện lưu rữ, bảo quản, tài nguyên thông tin số trên cơ sở tuân
thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về công nghệ thông tin, chuyên môn, nghiệp
vụ thư viện, sử dụng các phần mềm tiên tiến trong quản trị thư viện số, cung cấp
quyền truy cập tài nguyên thông tin số...
- Hiện đại hóa thư viện (Điều 32) được xây dựng trên tinh thần phát triển
cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại, bảo đảm triển khai vận hành thư viện, nghiên cứ
ứng dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ trong hoạt động thư viện phù
hợp với xu thế phát triển của thế giới.
- Truyền thông thư viện (Điều 33) với các quy định về nội dung truyền
thông của thư viện bao gồm: tài nguyên thông tin, sản phẩm thông tin thư viện
và dịch vụ thư viện, tiện ích thư viện, nhân lực thư viện và các nội dung khác
liên quan đến thư viện phù hợp với quy định của pháp luật. Tại điều này, Luật
đã quy định về các hình thức truyền thông của thư viện nhằm bảo đảm cho thư
viện có thể đa dạng hóa các hình thức truyền thông giúp cho người sử dụng có
thể biết đến thư viện, tiếp cận và sử dụng thư viện.
- Phối hợp giữa thư viện với cơ quan tổ chức (Điều 34): Luật đã quy định
các hoạt động mà thư viện phối hợp với các cơ quan tổ chức, trong đó nhấn
mạnh sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức về thông tin khoa học và công nghệ,
lưu trữ nhằm bảo đảm việc sử dụng và bảo quản hiệu quả tài nguyên thông tin,
ngân hàng dữ liệu của nhà nước, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chứ khác theo
chương trình hợp tác, hợp đồng và quy định của pháp luật. Ngoài ra, thư viện
phối hợp với cơ quan tổ chức, về văn hóa, du lịch và cơ quan tổ chức khác nhằm
đa dạng hình thức và dịch vụ thư viện. Tất cả cá...
BỘ TƯ PHÁP
VỤ PHÁP CHẾ
VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
_______________
__________________________
TÀI LIỆU GIỚI THIỆU LUẬT THƯ VIỆN
Ngày 21 tháng 11 năm 2019, tại Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá XIV đã thông
qua Luật Thư viện số 46/2019/QH14. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng
7 năm 2020. Pháp lệnh Thư viện số 32/2000/PL-UBTVQH10 hết hiệu lực kể từ
ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
I. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG LUẬT, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN SỰ
NGHIỆP THƯ VIỆN VÀ VĂN HÓA ĐỌC
1. Quan điểm xây dựng Luật Thư viện
1.1. Tiếp tục thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước trên tinh thần hoàn thiện thể chế về thư viện, cụ thể hóa Hiến
pháp năm 2013 về quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân trong
lĩnh vực văn hóa, kinh tế, xã hội, bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật
hiện hành và tính khả thi trong thực tiễn.
1.2. Khẳng định vai trò của thư viện trong phát triển văn hoá, khoa học,
giáo dục của đất nước, góp phần nâng cao dân trí, xây dựng xã hội học tập ở
Việt Nam; mở rộng chức năng và hoạt động của thư viện nhằm tăng cường năng
lực cung ứng dịch vụ công song hành với tăng cường tính tự chủ của thư viện.
1.3. Việc xây dựng Luật Thư viện phải trên cơ sở luận cứ khoa học và
tổng kết thực tiễn thi hành; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của một số nước
trong khu vực và trên thế giới, vận dụng phù hợp với thông lệ và cam kết quốc
tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia; kế thừa các quy định còn phù hợp với
Pháp lệnh Thư viện và các văn bản hướng dẫn thi hành đã được kiểm nghiệm
qua thực tiễn, đồng thời bảo đảm điều chỉnh kịp thời các quan hệ mới phát sinh
trong hoạt động thư viện; đơn giản hóa các thủ tục hành chính về điều kiện, thủ
tục thành lập thư viện, tạo sự thông thoáng nhằm thúc đẩy sự nghiệp thư viện
phát triển.
1.3. Thúc đẩy việc đa dạng hóa các loại hình thư viện, khuyến khích các tổ
chức, cá nhân tham gia hoạt động thư viện, đẩy mạnh xã hội hóa để phát huy các
nguồn lực trong xã hội, tạo điều kiện cho người dân có thêm cơ hội tiếp cận
thông tin, tri thức phục vụ học tập suốt đời.
2. Chính sách của Nhà nước trong việc phát triển sự nghiệp thư viện
và phát triển văn hóa đọc
Luật Thư viện cụ thể hóa các chính sách của Nhà nước về phát triển sự
nghiệp thư viện và phát triển văn hóa đọc, bao gồm:
- Đa dạng hóa các loại hình thư viện nhằm đẩy mạnh xã hội hóa để phát
huy các nguồn lực, tài nguyên thông tin tạo điều kiện cho người dân có thêm cơ
hội để tiếp cận thông tin, tri thức.
- Phát triển loại hình thu viện số, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân được
tiếp cận và sử dụng tài nguyên thông tin ở mọi nơi, mọi lúc.
- Bảo đảm tính minh bạch, cơ chế xử lý toàn diện đối với thư viện và bảo
vệ tài nguyên thông tin thư viện thông qua các điều kiện thành lập, hợp nhất,
chia tách, sáp nhập, giải thể, chấm dứt hoạt động thư viện.
- Mở rộng chức năng và hoạt động của thư viện công lập nhằm tăng cường
năng lực cung ứng dịch vụ công của thư viện phục vụ nhu cầu học tập, nghiên
cứu và giải trí của nhân dân.
II. BỐ CỤC, NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT THƯ VIỆN
1. Bố cục của Luật Thư viện
Luật Thư viện bao gồm: 06 chương, 52 điều với bố cục như sau:
- Chương 1: Quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 8);
- Chương 2: Thành lập thư viện (từ Điều 9 đến Điều 23);
- Chương 3: Hoạt động thư viện (từ Điều 24 đến Điều 37);
- Chương 4: Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong hoạt đông thư viện (từ Điều 38 đến Điều 47);
- Chương 5: Trách nhiệm quản lý nhà nước về thư viện (từ Điều 48 đến
Điều 50);
- Chương 6: Điều khoản thi hành (Điều 51 và 52).
2. Nội dung cơ bản và những điểm mới của Luật Thư viện
2.1. Chương I. Quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 8)
a) Về phạm vi điều chỉnh
So với Pháp lệnh Thư viện, Luật Thư viện mở rộng phạm vi điều chỉnh,
quy định về thành lập, hoạt động thư viện; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thư viện; quản lý nhà nước về thư
viện; bổ sung đối tượng áp dụng: tổ chức cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân
nước ngoài hoạt động thư viện hoặc có liên quan đến hoạt động thư viện trên
lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Luật Thư viện giải thích 07 thuật ngữ thư viện bao gồm: Thư viện, thư viện
số, tài nguyên thông tin, tài nguyên thông tin mở, tiện ích thư viện, dịch vụ thư
2
viện, liên thông thư viện. Các thuật ngữ này được xây dựng bảo đảm tính thống
nhất trong cách hiểu, gắn với xu thế phát triển của thư viện hiện đại và bảo đảm
tính thực thi trong thực tiễn.
b) Chức năng, nhiệm vụ của thư viện
Xác định chức năng nhiệm vụ của thư viện (Điều 4) với 04 chức năng,
nhiệm vụ cơ bản áp dụng với tất cả các loại thư viện Việt Nam trên cơ sở khẳng
định vai trò của thư viện trong phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học của đất
nước với các chức năng: Xây dựng, xử lý, lưu giữ, bảo quản, kết nối và phát
triển tài nguyên thông tin phù hợp với người sử dụng thư viện; Tổ chức sử dụng
chung tài nguyên thông tin, sản phẩm và dịch vụ thư viện góp phần truyền bá tri
thức của dân tộc và nhân loại; phục vụ nhu cầu học tập; giải trí; góp phần hình
thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực của người sử dụng
thư viện; Phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng. Mặt khác, nhằm tăng cường
hiện đại hóa thư viện, Luật đã bổ sung chế định về ứng dụng thành tựu khoa học
và công nghệ, hiện đại hóa thư viện như một nội dung bắt buộc đối với các loại
thư viện.
c) Chính sách của Nhà nước về phát triển thư viện (Điều 5) và xã hội hóa
trong hoạt động thư viện (Điều 6)
Luật Thư viện xác định chính sách của Nhà nước về phát triển sự nghiệp
thư viện và xã hội hóa trong hoạt động thư viện ở 03 cấp độ, cụ thể là:
Thứ nhất, Nhà nước đầu tư cho thư viện công lập, cụ thể là: (1) Đầu tư
trọng điểm cho Thư viện Quốc gia Việt Nam, thư viện cấp tỉnh và một số thư
viện có vai trò quan trọng; (2) Đầu tư cho một số hoạt động thư viện như: hiện
đại hóa thư viện; xây dựng thư viện số, tài nguyên thông tin dùng chung, tài
nguyên thông tin mở; liên thông thư viện trong nước và nước ngoài. Sưu tầm,
bảo quản và phát huy giá trị tài liệu cổ, quý hiếm, các bộ sưu tập tài liệu có giá
trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học. Tổ chức dịch vụ thư viện lưu động,
luân chuyển tài nguyên thông tin phục vụ khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng
bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, đặc biệt khó
khăn. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực và phát triển nguồn nhân lực thư
viện. Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến trong
hoạt động thư viện.
Thứ hai, Nhà nước hỗ trợ đầu tư, bao gồm: Cung cấp dịch vụ công trong
lĩnh vực thư viện, phát triển văn hóa đọc; Duy trì và phát triển thư viện cộng
đồng, thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng; Cước vận chuyển tài liệu thư viện
phục vụ nhiệm vụ chính trị, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, đặc biệt
khó khăn, biên giới, hải đảo; Hợp tác quốc tế về thư viện.
3
Thứ ba, Nhà nước khuyến khích xã hội hóa hoạt động thư viện. Nội dung
này được cụ thể hóa tại Điều 6 của Luật, theo đó cộng đồng dân cư, tổ chức, cá
nhân được tạo điều kiện để đầu tư, tài trợ, viện trợ, đóng góp phát triển sự
nghiệp thư viện, văn hoá đọc, xây dựng và phát huy không gian đọc, phòng đọc
cơ sở và được hưởng các ưu đãi, được ghi nhận và vinh danh theo quy định của
pháp luật.
d) Tài nguyên thông tin hạn chế sử dụng trong thư viện (Điều 7)
Đây là chế định mới được bổ sung quy định tài nguyên thông tin hạn chế sử
dụng trong thư viện trên tinh thần quyền con người, quyền công dân chỉ có thể
bị hạn chế theo quy định của luật theo quy định của Hiến pháp năm 2013. Nội
dung cụ thể về tài nguyên thông tin hạn chế sử dụng, nguyên tắc sử dụng tài
nguyên thông tin hạn chế sử dụng trong thư viện được giao cho Bộ trưởng Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định.
đ) Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thư viện (Điều 8)
Luật Thư viện kế thừa các quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong Pháp
lệnh Thư viên năm 2000, đồng thời bổ sung một số hành vi mới liên quan đến
triển khai xây dựng thư viện số để ngăn ngừa và có cơ sở xử lý các hành vi vi
phạm. Các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm: Lợi dụng hoạt động thư viện để
xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống lại Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc;
kích động bạo lực, gây thù hằn giữa các dân tộc, tôn giáo; tuyên truyền chiến
tranh xâm lược; phá hoại thuần phong mỹ tục; truyền bá mê tín; lôi kéo người sử
dụng thư viện vào các tệ nạn xã hội; cung cấp tài nguyên thông tin thuộc bí mật
của Nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; hạn chế quyền tiếp
cận và sử dụng tài nguyên thông tin của người sử dụng thư viện trái với quy
định của pháp luật, cung cáp thông tin về người sử dụng thư viện, trừ trường
hợp theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chiếm dụng, đánh tráo,
hủy hoại, làm hư hỏng tài nguyên thông tin; xâm nhập trái phép vào hệ thống
thông tin thư viện, cơ sở dữ liệu thư viện; làm sai lệch, gián đoạn hoặc phá hoại
hệ thống thông tin thư viện, cơ sở dữ liệu thư viện.
2.2. Chương II. Thành lập thư viện (từ Điều 9 đến Điều 23)
Chương này được phân thành 02 mục, Mục 1 quy định về về mạng lưới thư
viện (từ Điều 9 đến Điều 17) và Mục 2 quy định về thành lập, sáp nhập, hợp
nhất, chia, tách, giải thể thư viện (từ Điều 18 đến Điều 23) đã thiết lập mạng
lưới thư viện trên toàn lãnh thổ Việt Nam trên tinh thần đa dạng hóa các loại thư
viện, kiện toàn củng cố thư viện công lập, đẩy mạnh xã hội hóa, phát triển thư
viện ngoài công lập.
a) Các loại thư viện
4
Luật Thư viện quy định các loại thư viện ở Việt Nam bao gồm: Thư viện
Quốc gia Việt Nam, Thư viện công cộng, Thư viện chuyên ngành, Thư viện lực
lượng vũ trang nhân dân, Thư viện cơ sở giáo dục đại học, Thư viện cơ sở giáo
dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở
giáo dục khác, Thư viện cộng đồng và thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng và
Thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt Nam. Các loại
thư viện này được tổ chức theo 02 mô hình đó là: Thư viện công lập và Thư viện
ngoài công lập.
Trên cơ sở xác định các loại thư viện, Luật đã quy định cụ thể về chức
năng, nhiệm vụ của từng loại thư viện. Theo đó, ngoài các chức năng, nhiệm vụ
chung được quy định tại Điều 4 của Luật, tương ứng với mỗi loại thư viện, Luật
có những quy định phù hợp với đặc thù của từng loại thư viện trên tinh thần kiện
toàn hệ thống thư viện, đẩy mạnh xã hội hóa, tạo hành lang pháp lý để các thư
viện phát huy vai trò của mình trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin,
hưởng thụ các giá trị văn hóa, học tập suốt đời và phát triển văn hóa đọc trong
cộng đồng.
- Thư viện Quốc gia Việt Nam (Điều 10)
Thư viện Quốc gia Việt Nam là thư viện trung tâm của cả nước.
Thư viện Quốc gia Việt Nam thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định tại
Điều 4 của Luật này và các chức năng, nhiệm vụ sau đây: (i) Tiếp nhận, bảo
quản, lưu giữ vĩnh viễn xuất bản phẩm, ấn phẩm báo chí được xuất bản tại Việt
Nam theo quy định của pháp luật; luận án tiến sĩ của công dân Việt Nam bảo vệ
ở trong nước và nước ngoài; luận án tiến sĩ của người nước ngoài bảo vệ tại Việt
Nam; (ii) Bổ sung và phổ biển tài liệu về Việt Nam, tài liệu tiêu biểu của nước
ngoài; (iii) Xây dựng hệ thống thông tin thư mục quốc gia; chủ trì, phối hợp với
thư viện của các Bộ, ngành và thư viện khác trong nước xây dựng Tổng mục lục
Việt Nam; công bố, chia sẻ thông tin thư mục quốc gia, tài nguyên thông tin số
cho thư viện có nhu cầu, trừ tài nguyên thông tin hạn chế sử dụng theo quy định
của Luật này và pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, tiếp cận thông tin, lưu trữ;
(iv) Nghiên cứu khoa học thông tin thư viện; (v) Thực hiện biên mục tập trung;
chủ trì, phối hợp với các thư viện xây dựng và phát triển cơ sở dữ liệu toàn văn,
thư viện số; (vi) Hợp tác, trao đổi tài nguyên thông tin với thư viện trong nước
và nước ngoài; tham gia diễn đàn, tổ chức xã hội - nghề nghiệp về thư viện theo
quy định của pháp luật; (vii) Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho các thư
viện trong cả nước theo phân công và thực hiện nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao.
- Thư viện công cộng (Điều 11)
Thư viện công cộng là thư viện có tài nguyên thông tin tổng hợp phục vụ
Nhân dân, gồm thư viện cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, thực hiện chức năng,
5
nhiệm vụ quy định tại Điều 4 của Luật. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định chức
năng, nhiệm vụ cụ thể của từng cấp thư viện công cộng như sau:
Thư viện cấp tỉnh: (i) Thu thập tài liệu cổ, quý hiếm; tài nguyên thông tin
về tiếng nói, chữ viết của người dân tộc thiểu số; tài nguyên thông tin của địa
phương và về địa phương; (ii) Xây dựng cơ sở dữ liệu, thư viện số về địa
phương; phổ biến tài nguyên thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa
phương; (iii) Hỗ trợ, hướng dẫn, trang bị kỹ năng tìm kiếm, khai thác và sử dụng
thông tin cho người sử dụng thư viện; (iv) Tổ chức khu vực đọc phục vụ trẻ em,
người khuyết tật; (v) Tham gia xây dựng thư viện công cộng huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây
gọi là thư viện cấp huyện), thư viện công cộng xã, phường, thị trấn (sau đây gọi
là thư viện cấp xã); (vi) Tổ chức thư viện lưu động, luân chuyển tài nguyên
thông tin, tiện ích thư viện; (vii) Tổ chức triển lãm và hoạt động khác nhằm phát
triển văn hóa đọc; (viii) Thực hiện liên thông với thư viện trong nước và nước
ngoài;(ix) Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho thư viện trên địa bàn theo
phân công và thực hiện nhiệm vụ khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
giao.
Thư viện cấp huyện: (i) Tiếp nhận tài nguyên thông tin, tiện ích thư viện từ
thư viện cấp tỉnh; (ii) Luân chuyển tài nguyên thông tin đến thư viện trên địa
bàn; (iii) Tổ chức hoạt động phục vụ nhu cầu học tập suốt đời của Nhân dân trên
địa bàn; (iv) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao.
Thư viện cấp xã: (i) Tiếp nhận tài nguyên thông tin, tiện ích thư viện từ thư
viện cấp tỉnh, thư viện cấp huyện và các nguồn hợp pháp khác; (ii) Luân chuyển
tài nguyên thông tin đến thư viện cộng đồng, thư viện tư nhân có phục vụ cộng
đồng trên địa bàn; (iii) Tham gia xây dựng văn hóa đọc, hình thành thói quen
đọc cho Nhân dân trên địa bàn; (iv) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền giao.
- Thư viện chuyên ngành (Điều 12)
Thư viện chuyên ngành là thư viện có tài nguyên thông tin chuyên sâu về
một ngành, lĩnh vực hoặc nhiều ngành, lĩnh vực phục vụ cán bộ, công chức, viên
chức, người lao động của cơ quan, tổ chức chủ quản.
Thư viện chuyên ngành gồm thư viện của cơ quan nhà nước; thư viện của
tổ chức khoa học và công nghệ; thư viện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; thư viện của tổ chức kinh
tế.
Thư viện chuyên ngành có chức năng, nhiệm vụ cụ thể sau đây: (i) Phát
triển tài nguyên thông tin phù hợp với chuyên ngành phục vụ; tiếp nhận, bổ sung
và tổ chức khai thác tài nguyên thông tin từ hoạt động nghiên cứu, công bố khoa
6
học, tài liệu hội nghị, hội thảo, báo cáo nghiên cứu, khảo sát của cán bộ nghiên
cứu, cơ quan, tổ chức chủ quản và đề án, dự án, tạp chí chuyên ngành của cơ
quan, tổ chức chủ quản; (ii) Xây dựng cơ sở dữ liệu, thư viện số chuyên ngành
nội sinh; bổ sung và mua quyền truy cập tài nguyên thông tin chuyên ngành
nước ngoài; (iii) Thực hiện liên thông với thư viện trong nước và nước ngoài;
(iv) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ quan, tổ chức chủ quản giao.
- Thư viện lực lượng vũ trang nhân dân (Điều 13)
Thư viện lực lượng vũ trang nhân dân là thư viện của các đơn vị Quân đội
nhân dân và Công an nhân dân, có tài nguyên thông tin tổng hợp, chuyên ngành
quốc phòng, an ninh phục vụ cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân trên địa bàn, người
đang chấp hành hình phạt tù, học tập, cải tạo trong cơ sở giam giữ, trường giáo
dưỡng.
Thư viện lực lượng vũ trang nhân dân có chức năng, nhiệm vụ cụ thể sau
đây: (i) Phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ được giao;
tiếp nhận, bổ sung và tổ chức khai thác tài nguyên thông tin chuyên ngành quốc
phòng, an ninh trong nước và nước ngoài; tài liệu hội nghị, hội thảo, báo cáo
nghiên cứu, khảo sát và đề án, dự án, tạp chí chuyên ngành của lực lượng vũ
trang nhân dân theo quy định; (ii) Xây dựng cơ sở dữ liệu, thư viện số chuyên
ngành nội sinh; bổ sung và mua quyền truy cập tài nguyên thông tin chuyên
ngành quốc phòng, an ninh; (iii) Thực hiện liên thông giữa các thư viện trong
cùng hệ thống, chia sẻ tài nguyên thông tin với thư viện trong nước và nước
ngoài; (iv) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ quan chủ quản giao.
- Thư viện đại học (Điều 14)
Thư viện đại học là thư viện có tài nguyên thông tin phục vụ người học và
người dạy trong cơ sở giáo dục đại học. Thư viện đại học có chức năng, nhiệm
vụ cụ thể sau đây: (i) Phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với mục tiêu, nội
dung, chương trình, lĩnh vực, ngành đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ của cơ sở giáo dục đại học; (ii) Tiếp nhận, bổ sung và tổ chức khai
thác khóa luận, đề án, luận văn, luận án, kết quả nghiên cứu khoa học của người
học và người dạy trong cơ sở giáo dục đại học; xây dụng tài liệu nội sinh, cơ sở
dữ liệu học liệu, tài nguyên học liệu mở; (iii) Tổ chức không gian đọc; hướng
dẫn sử dụng sản phẩm thư viện và dịch vụ thư viện; hoàn thiện kỹ năng tìm
kiếm, khai thác và sử dụng thông tin; củng cố, mở rộng kiến thức cho người học,
người dạy và cán bộ quản lý; (iv) Thực hiện liên thông với thư viện trong nước
và nước ngoài; (v) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ sở giáo dục đại học giao.
- Thư viện cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo
dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục khác (Điều 15)
7
Thư viện cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo
dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục khác là thư viện có tài nguyên thông tin phục
vụ người học và người dạy trong cơ sở giáo dục.
+ Thư viện cơ sở giáo dục mầm non có chức năng, nhiệm vụ cụ thể sau
đây:Phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với độ tuổi, tâm lý của trẻ em mầm
non; nhu cầu thông tin, tài liệu của người dạy, cán bộ quản lý và chương trình
giáo dục của cơ sở giáo dục; tổ chức hoạt động làm quen với sách và hình thành
thói quen đọc của trẻ em mầm non; hướng dẫn sử dụng thư viện, trang bị kỹ
năng tìm kiếm, khai thác, sử dụng thông tin cho người dạy và cán bộ quản
lý;thực hiện nhiệm vụ khác do cơ sở giáo dục giao.
+ Thư viện cơ sở giáo dục phổ thông có chức năng, nhiệm vụ cụ thể sau
đây:Phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với nhu cầu học tập, nghiên cứu của
người học, người dạy, cán bộ quản lý và mục tiêu, nội dung, chương trình học
tập, giảng dạy của từng cấp học, chương trình học; tổ chức hoạt động khuyến
đọc, hình thành thói quen, kỹ năng đọc của người học; hướng dẫn sử đụng thư
viện, trang bị kỹ năng tìm kiếm, khai thác, sử dụng thông tin cho người học,
người dạy và cán bộ quản lý; hỗ trợ việc học tập, giảng dạy, nghiên cứu và tổ
chức các hoạt động giáo dục khác; thực hiện nhiệm vụ khác do cơ sở giáo dục
giao.
+ Thư viện cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục khác có chức
năng, nhiệm vụ cụ thể sau: Phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với nhu cầu
học tập, nghiên cứu của người học, người dạy, cán bộ quản lý và mục tiêu, nội
dung, chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục; tổ chức hoạt động khuyến đọc;
hướng dẫn sử dụng thư viện, trang bị kỹ năng tìm kiếm, khai thác, sử dụng
thông tin cho người học, người dạy và cán bộ quản lý; thực hiện nhiệm vụ khác
do cơ sở giáo dục giao.
- Thư viện cộng đồng và thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng (Điều 16)
+ Thư viện cộng đồng là thư viện, có tài nguyên thông tin tổng hợp do cộng
đồng dân cư thành lập tại trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm văn hóa, thể
thao xã, phường, thị trấn; điểm bưu điện văn hóa xã; nhà văn hóa thôn, ấp, bản,
làng, buôn, phum, sóc; khu chung cư; nơi sinh hoạt chung của cộng đồng.
+ Thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng là thư viện có tài nguyên thông
tin tổng hợp hoặc chuyên ngành do tổ chức, cá nhân Việt Nam thành lập, tự bảo
đảm kinh phí hoạt động.
+ Thư viện cộng đồng và thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng có chức
năng, nhiệm vụ cụ thể sau đây: Cung cấp tài nguyên thông tin cho Nhân dân trên
địa bàn; tiếp nhận tài nguyên thông tin luân chuyển từ thư viện công cộng các
cấp để phục vụ Nhân dân; tổ chức hoạt động thư viện theo nội dung đã thông
8
báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền; xây dựng và tham gia phát triển văn
hóa đọc cho Nhân dân trên địa bàn.
- Thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt Nam
(Điều 17)
Thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt Nam là
thư viện có tài nguyên thông tin tổng hợp, chuyên ngành do tổ chức, cá nhân
nước ngoài thành lập tại Việt Nam; tự bảo đảm kinh phí hoạt động; hoạt động
theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liền quan.
Thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt Nam tổ
chức hoạt động thư viện theo nội dung đã thông báo cho cơ quan nhà nước có
thẩm quyền; tham gia phát triển văn hóa đọc.
b) Thành lập, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể thư viện (Mục 2)
Trên cơ sở xác định các loại thư viện, Luật đã quy định về thành lập, sáp
nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể thư viện. Theo đó, Luật quy định cụ thể 04
điều kiện thành lập thư việnvề mục tiêu, đối tượng phục vụ, tài nguyên thông tin
phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm phục vụ
hoạt động thư viện; người làm công tác thư viện có chuyên môn, nghiệp vụ phù
hợp với hoạt động thư viện và giao Chính phủ quy định chi tiết về điều kiện
thành lập thư viện.
Cũng tại Mục này, Luật đã quy định về việc thành lập thư viện công lập
(Điều 19); thành lập thư viện ngoài công lập (Điều 20); sáp nhập, hợp nhất, chia,
tách, giải thể thư viện (Điều 21). Đây là những chế định góp phần kiện toàn,
củng cố mạng lưới thư viện công lập, khuyến khích thành lập thư viện ngoài
công lập, đồng thời cụ thể hóa quyền về tổ chức cá nhân trong việc tham gia
thành lập thư viện, phục vụ học tập suốt đời và phát triển văn hóa đọc trong
cộng đồng. Đồng thời, Luật đã thiết lập cơ chế bảo vệ tài nguyên thông tin, một
trong những tài sản quan trọng của quốc gia trong trường hợp thư viện thực hiện
việc sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể thư viện. Chế định này có ý nghĩa
quan trọng bảo đảm tính kế thừa trong hoạt động thư viện cũng như bảo đảm
quyền được tiếp cận thông tin, tri thức của người dân trong trường hợp thư viện
có những biến động.
Một điểm mới của Luật Thư viện so với Pháp lệnh Thư viện đó là việc quy
định chế tài trong trường hợp thư viện thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật
về thư viện và các quy định của pháp luật khác có liên quan thông qua chế định
về đình chỉ, chấm dứt hoạt động thư viện (Điều 22). Nội dung về trình tự, thủ
tục đình chỉ, chấm dứt hoạt động thư viện được giao cho Chính phủ quy định chi
tiết.
9
Nhằm tiến tới đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động thư viện,
khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập thư viện cộng đồng, thư viện tư nhân có
phục vụ cộng đồng, Luật đã sử dụng thông báo việc thành lập, sáp nhập, hợp
nhất, chia, tách, giải thể, chấm dứt hoạt động thư viện thay cho việc đăng ký
hoạt động thư viện được quy định tại Điều 23 của Luật. Theo đó, tổ chức cá
nhân có thẩm quyền, thành lập, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, chấm dứt
hoạt động thư viện phải thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải
có văn bản trả lời của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi hoạt động.
2.3. Chương III. Hoạt động thư viện (từ Điều 24 đến Điều 37)
a) Nguyên tắc hoạt động thư viện
Luật đã xây dựng các nguyên tắc hoạt động thư viện (Điều 24) với những
nội dung cơ bản có liên quan đến việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của
người dân, tạo lập môi trường bình đẳng, lấy người sử dụng làm trung tâm; việc
triển khai các hoạt động thư viện trên tinh thần tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia và chuẩn nghiệp vụ liên quan trong lĩnh vực thư viện; đổi mới
sáng tạo về quy trình, sản phẩm thông tin, dịch vụ thư viện trên cơ sở ứng dụng
thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến; liên thông thư viện; tuân thủ quy
định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, khoa học và công nghệ, công nghệ nghệ
thông tin, an ninh mạng và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trên cơ sở quy định các nguyên tắc hoạt động thư viện Luật đã quy định cụ
thể các hoạt động thư viện nhằm chuẩn hóa và hiện đại hóa quy trình hoạt động
thư viện với các hoạt động cơ bản mà các thư viện phải triển khai như:
b) Xây dựng tài nguyên thông tin (Điều 25)
Luật quy định về phát triển và thanh lọc tài nguyên thông tin, Luật cũng
xác định các phương thức phát triển tài nguyên thông tin bao gồm: bổ sung, mua
tài nguyên thông tin và quyền truy cập cơ ở dữ liệu, tài nguyên thông tin số, thu
thập tài nguyên thông tin mở, tài nguyên thông tin thuộc về công chúng, tài
nguyên thông tin có giá trị; liên thông trao đổi tài nguyên thông tin; chuyển dạng
số hóa tài nguyên thông tin; tiếp nhận tài nguyên thông tin do tổ chức, cá nhân
trong nước và nước ngoài chuyển giao, tài trợ, viện trợ, tặng, cho, đóng góp.
Việc thanh lọc tài nguyên thông tin được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
c) Xử lý tài nguyên thông tin và tổ chức hệ thống tra cứu thông tin (Điều
26) với các quy định về xử lý tài nguyên thông tin theo tinh thần tài nguyên
thông tin sau khi bổ sung vào thư viện phải được xử lý theo quy trình nghiệp vụ,
thực hiện biên mục sao chép, áp dụng kết quả xử lý tài nguyên thông tin của các
thư viện có vai trò quan trọng để bảo đảm chính xác, thống nhất và tiết kiệm.
10
Việc tổ chức hệ thống tra cứu thông tin phải bảo đảm lưu trữ an toàn kết quả xử
lý tài nguyên thông tin, bảo đảm cập nhật, dễ sử dụng.
d) Bảo quản tài nguyên thông tin (Điều 27) được thực hiện đối với toàn bộ
tài nguyên thông tin trong quá trình lưu giữ và phục vụ, bảo đảm an toàn thông
tin phục vụ cho việc quản lý, tra cứu và sử dụng; thực hiện các hình thức bảo
quản dự phòng, phục chế hoặc chuyển dạng tài liệu; tài nguyên thông tin số phải
được sao lưu định kỳ và phải có cơ chế khôi phục dữ liệu khi cần thiết; bảo đảm
tính tương thích về mặt công nghệ; tài nguyên thông tin là di sản văn hóa, tài
nguyên thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước phải được bảo quản theo quy
định của pháp luật về di sản văn hóa, lưu trữ, bảo vệ bí mật nhà nước. Các nội
dung này sẽ được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định cụ thể.
e) Tạo lập, cung cấp sản phẩm thông tin thư viện và dịch vụ thư viện (Điều
28) với các quy định bảo đảm cho việc tạo lập, cung cấp sản phẩm thông tin thư
viện và dịch vụ thưu viện khoa học, hiện đại, hiệu quả, phù hợp với chức năng,
nhiệm vụ của thư viện và nhu cầu của người sử dụng, bảo đảm sự đa dạng về
hình thức, phương thức cung cấp sản phẩm thông tin thư viện và dịch vụ thư
viện. Tại Điều này, Luật đã xác định các loại hình sản phẩm thông tin thư viện
và dịch vụ thư viện cần được triển khai tại thư viện để đáp ứng nhu cầu của
người sử dụng và xã hội.
f) Liên thông thư viện (Điều 29) là một trong những quy định mới, có tính
cách mạng trong hoạt động thư viện, tạo điều kiện để các thư viện liên thông,
liên kết đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. Luật đã quy định các nội dung liên
thông thư viện, phương thức liên thông và cơ chế liên thông, theo đó, Thư viện
được Nhà nước ưu tiên đầu tư làm nòng cốt trong xây dựng, chia sẻ và khai thác
tài nguyên thông tin dùng chung giữa các thư viện, hợp tác trong việc bổ sung,
mua quyền truy cập và chia sẻ tài nguyên thông tin nước ngoài, sử dụng hiệu
quả nguồn kinh phí của Nhà nước và xã hội; tài nguyên thông tin được xây dựng
từ ngân sách nhà nước phải được liên thông, chia sẻ giữa các thư viện, các nội
dung này sẽ được Chính phủ quy định chi tiết.
g) Các nội dung khác
Ngoài các nội dung có tính chất chuyên môn, nghiệp vụ, Luật đã bổ sung
một số hoạt động phù hợp với xu thế phát triển thư viện hiện đại, tạo điều kiện
để các thư viện có thể mở rộng hoạt động, tận dụng các nguồn lực sẵn có, ứng
dụng công nghệ thông tin, tăng cường liên thông, liên kết để phát triển, đáp ứng
nhu cầu của người sử dụng như:
- Phát triển văn hóa đọc (Điều 30) với việc lấy ngày 21 tháng 4 hàng năm
là ngày sách và Văn hóa đọc Việt Nam đồng thời quy định nội dung về phát
triển văn hóa đọc góp phần hình thành thói quen, phương pháp, kỹ năng đọc, tìm
11
kiếm khai thác và sử dụng thông tin, mở rộng tri thức cho người sử dụng thư
viện.
- Phát triển thư viện số (Điều 31) với các quy định về xây dựng tài nguyên
thông tin số, thực hiện lưu rữ, bảo quản, tài nguyên thông tin số trên cơ sở tuân
thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về công nghệ thông tin, chuyên môn, nghiệp
vụ thư viện, sử dụng các phần mềm tiên tiến trong quản trị thư viện số, cung cấp
quyền truy cập tài nguyên thông tin số...
- Hiện đại hóa thư viện (Điều 32) được xây dựng trên tinh thần phát triển
cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại, bảo đảm triển khai vận hành thư viện, nghiên cứ
ứng dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ trong hoạt động thư viện phù
hợp với xu thế phát triển của thế giới.
- Truyền thông thư viện (Điều 33) với các quy định về nội dung truyền
thông của thư viện bao gồm: tài nguyên thông tin, sản phẩm thông tin thư viện
và dịch vụ thư viện, tiện ích thư viện, nhân lực thư viện và các nội dung khác
liên quan đến thư viện phù hợp với quy định của pháp luật. Tại điều này, Luật
đã quy định về các hình thức truyền thông của thư viện nhằm bảo đảm cho thư
viện có thể đa dạng hóa các hình thức truyền thông giúp cho người sử dụng có
thể biết đến thư viện, tiếp cận và sử dụng thư viện.
- Phối hợp giữa thư viện với cơ quan tổ chức (Điều 34): Luật đã quy định
các hoạt động mà thư viện phối hợp với các cơ quan tổ chức, trong đó nhấn
mạnh sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức về thông tin khoa học và công nghệ,
lưu trữ nhằm bảo đảm việc sử dụng và bảo quản hiệu quả tài nguyên thông tin,
ngân hàng dữ liệu của nhà nước, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chứ khác theo
chương trình hợp tác, hợp đồng và quy định của pháp luật. Ngoài ra, thư viện
phối hợp với cơ quan tổ chức, về văn hóa, du lịch và cơ quan tổ chức khác nhằm
đa dạng hình thức và dịch vụ thư viện. Tất cả cá...
 






Các ý kiến mới nhất