Truyền thống Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Truyền thuyết Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Thị Hương
Ngày gửi: 19h:39' 16-11-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Thị Hương
Ngày gửi: 19h:39' 16-11-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
THÔNG TIN EBOOK
Tên sách: Truyền thuyết Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Thể loại: History
Năm xuất bản: 2010
Số hóa: Hoàng Nghĩa Hạnh
Tạo và hiệu chỉnh ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
https://thuviensach.vn
Bát Nàn Công Chúa
Thời nhà Hán đô hộ, vùng Phượng Lâu, Đức Bác thuộc huyện Phù Ninh tỉnh
Vĩnh Phú ngày nay là một trang ấp lớn dưới quyền ông Vũ Chất và bà Hoàng
Thị Mẫu cai quản. Ngoài công việc nông trang ông bà còn biết nhiều bài
thuốc chữa chạy cho những ai đau yếu bệnh tật, nên được dân chúng khắp
vùng mến phục.
Nàng Thục Nương, con gái của ông bà, là người tài đức, có võ nghệ cao
cường, lại có dung mạo xinh đẹp tuyệt vời. Đến tuổi trưởng thành Thục
Nương hứa hôn với Phạm Danh Hương là một chàng trai anh tuấn, con của vị
huyện trưởng Nam Châu.
Tiếng đồn về tài sắc của Thục Nương đến tai thái thú Tô Định của quận Giao
Chỉ. Y sai bày tiệc rượu rồi cho mời ông Vũ Chất đến để cầu thân. Ông Vũ
Chất từ chối, nói là con gái mình sắp lấy chồng. Tô Định không tin, liền sai
mời cả Phạm Danh Hương cùng đến. Y nói với ông Vũ: nếu đúng như vậy thì
y sẽ đứng ra làm chủ hôn.
Giữa bữa tiệc, Tô Định ra ám hiệu hất chén rượu, thế là bọn thủ hạ trực sẵn
hai bên lập tức xông ra lôi tuột ông Vũ Chất và Phạm Danh Hương đem giết
đi. Sau đó Tô Định cho một toán quân đến trang Phượng Lâu để bắt Thục
Nương đem về dinh.
Nhưng người thân tín theo ông Vũ Chất vào dinh Tô Định đã nhanh chân
chạy về báo trước. Thục Nương vô cùng căm giận, vội thu xếp cho mẹ và gia
quyến đi trước, còn tự mình thì ở lại chờ giặc.
Khi quân Tô Định tới nơi, thục Nương múa song kiếm xông ra, tên cầm đầu
cùng mấy tên nữa bị giết. Những tên còn lại hoảng hốt bỏ chạy. Thục nương
cũng vội thu xếp tư trang hành lý, rồi mau chóng lánh mình.
Nàng đi mãi đi mãi ... xuống phía Nam. Khi tới một ngôi chùa nhỏ ở ấp Tiên
La bên bờ sông Thiên Đức, thuộc địa phận tỉnh Thái Bình ngày nay, thì dừng
lại.
https://thuviensach.vn
Đêm ấy các vị bô lão trong ấp Tiên La đều nằm mộng thấy thần thành hoàng
đến báo có vị thượng nhân ở nơi khác tới chùa. Sáng hôm sau các vị bô lão
kéo đến tập trung trước sân chùa. Một số người mở cửa vào trong thấy sau
ngôi tam bảo có một người con gái đang đứng, tay cầm song kiếm. Thục
Nương lúc ấy nghe có tiếng động tưởng quân Tô Định đến bao vây, liền đứng
vào thế thủ sẳn sàng chiến đấu.
Thấy vậy các vị bô lão vàđân làng vội vàng quỳ xuống, kể lại giấc mộng đêm
qua. Thục Nương cảm động cũng quỳ xuống đáp lễ, rồi thuật lại gia cảnh của
mình. Tất cả đân làng đều nhất tề hãy ở lại làm ăn sinh sống để chờ thời cơ
giết giặc, bởi vì sưu cao thuế nặng và sự dã man tàn bạo của quân thù làm
cho ai nấy đều căm giận trong lòng.
Thấy mọi người đồng tâm đồng ý, lại thấy nơi đây địa hình thuận lợi có thể
lập căn cứ được, Thục Nương đã vui lòng ở lại.
Từ đó Thục Nương trông coi chùa Tiên La. Nàng xuống tóc đi tu nhưng tâm
trí thì lúc nào cũng nấu nung đến nợ nước trả thù nhà. Vốn là người có võ
nghệ cao cường, lại tinh thông nhiều trận pháp nên Thục Nương bắt tay vào
việc tập luyện cho dân làng. Thế là mọi người lo sắm sửa khí giới, chuẩn bị
lương thực vàđêm đêm lại tập luyện võ nghệ, trận pháp. Các làng xung quanh
biết tin cũng kéo đến ngày đ êm mỗi đông. Dần ấp Tiên La trở thành một căn
cứ lớn, có mấy ngàn dân binh, được trang bị khí giới đầy đủ, lại tinh thông võ
nghệ và các trận pháp. Thục Nương phất cờ khởi nghĩa, được dân chúng tôn
xưng là Bát Nàn đại tướng quân, đã giao chiến nhiều trận với giặc và thu
được nhiều thắng lợi .
Lúc ấy Hai Bà Trưng đã dấy binh ở Mê Linh, chuẩn bị đánh thành Luy Lâu,
cho sứ giả đi khắp nơi truyền lệnh khởi nghĩa ...
Khi sứ giả đến Tiên La thì Bát Nàn tướng quân đã hay tin ở Mê Linh có cuộc
khởi nghĩa. Còn đang băn khoăn đem quân đến Mê Linh hay cứ ở lại độc lập
tác chiến thì một đ êm đang ngủ Bát Nàn mộng thấy một nữ thần xuất hiện,
tay cầm lá cờ xan. Nữ thần nói tuân lệnh ngọc hoàng xuống trao cho bà lá cờ,
rồi lại đọc bốn câu thơ:
Nữ binh, nữ tướng
https://thuviensach.vn
Thiên dĩ định danh
Vật khả độc lập
Sự nãi bất thành
Tạm dịch:
Tướng gái quân gái
Trời đã định danh
Chớ đứng một mình
Việc không thành được
Đọc xong nữ thần biến mất. Bát Nàng tướng quân tỉnh dậy và hiểu là mình
phải quyết định thế nào. Mấy hôm sau có sứ giả đến, Bà sai thù tiếp rồi ngay
sau đó tập hợp binh sĩ tiến về Mê Linh tụ nghĩa.
Thấy Bát Nàng tướng quân đến Hai Bà Trưng vô cùng mừng rỡ. Đây là một
lực lượng hùng mạnh lại dưới quyền chỉ huy của vị danh tướng tài ba. Sau
mấy ngày hội quân, Hai Bà giao cho Bát Nàn lĩnh đạo quân tiên phong tiến
đánh Luy Lâu. quả danh bất hư truyền, mỗi khi song kiếm của Bát Nàn tướng
quân múa tới đâu làđầu giặc rơi tới đó, quân Hán về sau chỉ vừa trông thấy đã
phải bỏ chạy .
Thành Luy Lâu và các thành khác bị hạ, Hai Bà Trưng xưng vương, phong
thêm Bát Nàn tướng quân là Trinh Thục công chúa, cho hưởng thực ấp và
quản lĩnh cả hai nơi là Tiên La (Thái Bình) và Phượng Lâu (Vĩnh Phú).
Khi Mã Viện kéo quân sang xâm lược, sau trận Lãng Bạc, Hai Bà Trưng rút
về Cẩm Khê, Bát Nàn tướng quân cũng rút về Tiên La. Tại đây khi thấy tình
thế đang lúc khó khăn, bà cho giải tán lực lượng, ai về nhà ấy làm ăn sinh
sống, để chờ thời cơ, còn bà, tự mình cũng về tu trong chùa cũ.
Tuy vậy, bà và các thủ lĩnh vẫn thỉnh thoảng gặp gỡ nhau để bàn bạc đại sự.
Quân giặc vẫn ngày đêm cho lính đi dò la tin tức của bà. Một đêm trăng sáng
https://thuviensach.vn
khi bàđang cùng mọi người họp mặt thì quân giặc bỗng ở đâu ập tới. Chúng
kéo mỗi lúc một đông. Bát Nàn tướng quân múa song kiếm tử chiến với giặc.
Bà tả xung hữu đột, phá vòng vây rồi chạy tới một gốc cây tùng. Tại đây do
vết thương quá nặng nên bàđã gục xuống và hóa. Đó là lúc rạng sáng ngày 18
tháng 3 âm lịch.
Sau này, mọi người Tiên La đã lập đền thờ bà ngay tại gốc cây tùng đó và lấy
ngày bà tử nạn làm ngày lễ.
Các làng Phượng Lâu, Đức Bát ở Vĩnh Phú cũng lập đền thờ bà. Các triều đại
trước kia đều có sắc thượng phong cho bà.
https://thuviensach.vn
Bà Chúa Ngọc
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng
già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm
nghề trồng dưa. Năm ấy, đến độ dưa chín, sáng nào ra ruộng thăm, ông bà
cũng thấy dưa bị hái trộm. Lạ một điều, chỉ có một quả dưa lớn nhất đẹp nhất
là bị hái, nhưng kẻ trộm không ăn mà cũng chẳng mang đi. Quả dưa còn nằm
ở một chỗ trống, nhưng bưng lên đã thấy bị nẫu.
Thấy sự lạ, hai ông bà bèn bàn nhau cất công để ý rình. Rồi một đêm trăng
sáng, họ đến nấp vào một bụi cây cạnh ruộng. Gần đến nửa đêm, bỗng đâu có
cô gái trạc độ mười ba mười bốn tuổi tự nhiên hiện ra ở giữa ruộng dưa. Cô
gái rón rén đi, nhìn ngắm từng quả dưa một, rồi sau đó, hình như đã chọn
được quả ưng ý nhất thì cúi xuống hái lên. Cô ngắm đi ngắm lại mãi, rồi tìm
ra một chỗ trống, tung quả dưa từ tay bên này sang tay bên kia, và cứ như thế,
một lúc lâu, sau lại ôm lấy quả dưa mà ngắm nghía mãi không biết chán ...
Đúng lúc ấy, từ chỗ nấp, hai ông bà chạy ùa cả ra, nắm ngay lấy tay cô gái.
Còn cô gái, tuy không chạy trốn kịp nhưng cũng chẳng tỏ ra có chút gì sợ hãi.
Cô trả cho họ quả dưa, và khi được hỏi thì cô lễ phép trả lời: Cô là con nhà
nghèo không còn cả cha lẫn mẹ, nhà cô ở cách đây rất xa và cô cũng chẳng
nhớ được quê mình ở đâu nữa ...
Thấy cô gái dễ thương, lại nghĩ mình không có con cái, nên ông bà bàn nhau
nhận cô về làm con nuôi, rồi cả hai cùng nói với cô gái ...
Còn cô gái, thấy cử chỉ, lời lẽ của hai ông bà đều chân thành thì cô im lặng
lắng nghe và suy nghĩ, rồi sau đó nhận lời.
Cô theo họ về nhà. Sáng hôm sau, hai ông bà sửa lễ gia tiên, rồi hai bên chính
thức nhận nhau là bố mẹ và con cái. Từ đấy trong ngôi nhà của họ, không khí
vui vẻ đầm ấm hẳn lên. Hai ông bà hết lòng yêu thương chăm sóc cô, còn cô
thì cũng rất mực yêu thương kính trọng bố mẹ.
Một hôm trời đổ cơn mưa lớn, nước lũ ở thượng nguồn tràn về mênh mang,
khiến mọi người đều ở trong nhà không ai đi làm được cả. Bố mẹ cô, lẽ dĩ
https://thuviensach.vn
nhiên là rất lo lắng, mong sao cho nước mau cạn để cây cối khỏi bị chết úng,
thì cô, do tính tình còn trẻ dại, lại thích nô đùa. Rồi cô xuống bên mé nước
cậy đá lên, xếp chúng thành một hòn núi giả, lại đi tìm những cành lá gẫy
cắm vào xung quanh, để chơi ...
Thấy vậy, ông bà bực quá, nghĩ rằng con cái chẳng hiểu được lòng bố mẹ,
bèn lên tiếng trách cứ rồi la mắng. Nào ngờ, cô gái thấy tủi thân quá, bèn lủi
ra đầu hồi nhà, đứng khóc một mình. Một lúc lâu sau, nhân lúc bố mẹ không
ai để ý, cô lại lén ra khỏi nhà, rồi men theo những dải đất cao, đi ra phía bờ
biển. Cũng lúc ấy, dập dềnh bên mé nước có một cây gỗ kỳ nam, không biết
trôi từ đâu đến. Cô gái còn khóc hồi nữa, rồi nhìn quanh nhìn quẩn, thấy
mình hoàn toàn lẻ loi, cô đơn, cô bèn nhảy luôn lên cây gỗ, và một điều kỳ lạ
xảy ra: Cô gái đã nhập thân vào cây gỗ. Cây gỗ dập dềnh ở đấy một lúc nữa,
như có điều gì còn ghi nhớ và lưu luyến, rồi sau đó, theo sóng biển, trôi mãi
lên phương Bắc ...
Ông bà bố mẹ nuôi cô gái đang bận việc chẻ củi và may vá trong nhà, tưởng
con khóc rồi chơi ở ngoài đầu hồi, nên cũng không để ý. Đến mãi sau, khi lên
tiếng gọi thì chẳng thấy con đâu! Hai ông bà bèn nháo nhào đi tìm nhưng
khắp chốn cùng nơi, cũng vẫn tuyệt âm vô tín. Nước lụt mênh mang như thế,
lại đang cuộn chảy mãi ra biển, họ cho là con gái xảy chân đã trôi ra biển mất
rồi. Thế là ông bà gào thét, khóc than thảm thiết, sau đó làm lễ cúng chay cho
con, và từ đấy trở đi, sống âm thầm, rầu rĩ cho đến cuối đời ...
Còn cây gỗ kỳ nam, sau một hồi dập dềnh rồi trôi lên phương Bắc, và cứ thế
trôi mãi ... trôi mãi ... Đến khi sóng lặng gió yên thì đã trôi được cả ngàn dặm
đường và dạt vào bờ ...
Một buổi sáng dân địa phương nọ ra bờ biển, vô cùng ngạc nhiên thấy có cây
gỗ lạ rất đẹp trôi từ đâu đến. Họ bảo nhau mang thừng chão ra buộc vào rồi
cùng kéo lên bờ, nhưng hàng trăm người xúm vào mà cây vẫn không nhúc
nhích. Họ bèn đóng cọc ghim lại để tìm kế sách khác, và cũng từ đấy, dường
như ngay tức khắc, tiếng đồn về cây gỗ kỳ lạ đã lan ra khắp cả vùng.
Hoàng tử ở phương Bắc bấy giờ vào tuổi kén vợ, đang đi chu du khắp chốn
cùng nơi để tìm cho ra một người ưng ý. Khi đến vùng này, nghe chuyện cây
gỗ kỳ lạ, chàng cũng tò mò tìm đến. Thấy cây gỗ đẹp thì có đẹp nhưng cũng
không lớn lắm mà sao cả trăm người kéo không được thì chàng lấy làm lạ
https://thuviensach.vn
lắm. Cũng vẫn là tò mò, chàng xắn tay áo lên, bảo mọi người cho mình kéo
thử một cái xem sao.
Chiều ý Hoàng tử, mọi người lui cả ra. Nhưng thật vô cùng bất ngờ, khi
hoàng tử vừa cầm thừng co tay lại thì cây gỗ cũng lập tức chuyển động, rồi
dần dần, theo sức kéo mà tiến vào bờ. Đến khi chạm đất, Hoàng tử kéo mạnh
một cái nữa thì cây hoàn toàn đã nằm trên bãi biển.
Mọi người vô cùng phấn khởi, vỗ tay reo hò không ngớt. Xong xuôi, sau khi
hỏi ý kiến dân làng, Hoàng tử cho quân lính đem cây gỗ về Kinh đô .
Về phía dân làng, tuy cũng có người còn tiếc rẻ, nhưng đa phần cho rằng, đưa
cây gỗ về kinh là hợp lý hơn cả vì như vậy tất cả bàn dân thiên hạ sẽ đều
được chiêm ngưỡng. Còn về phía Hoàng tử thì cũng chẳng có vui mừng nào
hơn, chàng cho là có duyên cớ, bèn không tiếp tục đi tìm vợ nữa, mà cùng
quân lính trở về kinh, cùng với cây gỗ.
Khỏi phải nói, khi về đến Kinh đô thì mọi người, mọi nơi nghe tiếng, nao nức
tìm đến xem đông như thế nào. Nhưng rồi sự kiện ấy cũng mau chóng qua đi
bởi lẽ mọi người nhìn mãi rồi cũng chán, vì cây đẹp thì có đẹp nhưng chẳng
thấy có biểu hiện gì là lạ lùng cả. Mà dân chúng cần là cần sự lạ lùng, xưa
nay chưa từng có, chứ không phải là một cái cây đẹp.
Chỉ riêng có Hoàng tử, do chính tay mình đã chứng kiến và thực hiện được
một điều kỳ diệu, nên còn giữ mãi trong lòng sự vui mừng và niềm mong đợi.
Khi mọi người đã xem chán xem chê, đến mức không còn ai thiết xem nữa,
thì Hoàng tử mới sai quân lính đem cây về trước Đông cung để hàng ngày
được nhìn ngắm và gần gũi với cây.
Cây quả là đã có tình ý với Hoàng tử thật. Từ đó trở đi, mỗi đêm trăng sáng,
Hoàng tử bỗng thấy trong thân gỗ bước ra một người con gái xinh đẹp tuyệt
trần, và cùng lúc, là mùi hương thơm ngào ngạt tỏa ra theo mỗi bước chân
của nàng.
Mê mẩn trước người đẹp, Hoàng tử vội vàng chạy tới, nhưng lần nào cũng
vậy, hễ cứ giáp mặt, là người con gái lại biến ngay vào trong thân gỗ.
Sau vài lần như thế, Hoàng tử đã nghĩ ra được một cách, cũng khá đơn giản
https://thuviensach.vn
chứ chẳng có gì ghê gớm lắm.Chàng cho mấy người lính hầu đứng nấp ở
xung quanh, còn tự mình cũng nấp sẵn ở gần đấy. Khi cô gái vừa xuất hiện
thì Hoàng tử đã bước ra nắm chặt lấy tay nàng, và mấy người lính cũng lập
tức khiêng cây gỗ đem dấu biến đi. Hoàng tử bảo cô gái hãy vui lòng vì
chàng mà ở lại. Cô gái e lệ cúi đầu. Thế rồi, ngay lúc đó chàng dẫn nàng đến
trình với đức vua cha và hoàng hậu, kể lại hết đầu đuôi ngọn ngành, và xin
cha mẹ hãy tác thành cho họ.
Nhà vua lắng nghe, rồi nói: "Được. Để xem", xong cho gọi thị nữ đưa nàng
về phòng riêng, còn Hoàng tử thì trở về Đông cung.
Sáng hôm sau thiết triều, nhà vua cho triệu quan Thái bốc lại để bói xem điều
lành điều gở thế nào. Sau khi nghe tấu trình là quẻ đại phúc, nhà vua cả mừng
rồi ngay sau đó, cho cử đại lễ để hoàng tử sánh duyên cùng cô gái.
Từ đó, cuộc sum vầy của đôi trai gái diễn ra thật vô cùng êm ả, hạnh phúc.
Ba năm sau, họ sinh được một gái và một trai.
Tưởng rằng cuộc tình duyên ấy sẽ mặn nồng mãi mãi đến lúc đầu bạc răng
long. Nào ngờ Hoàng tử cũng là kẻ bạc tình, chỉ chung thủy được có mấy
năm đầu. Khi vợ đã có con thì chàng ta đâm ra hay chơi bời chứ chẳng quan
tâm được như trước. Nay rượu, mai cờ bạc, rồi đi dong duổi khắp nơi, không
chú ý gì đến việc dạy dỗ con cái. Nàng đã nhiều lần khuyên can nhưng chàng
vẫn chứng nào tật ấy, làm nàng rất chán nản. Vì vậy, ở trong hoàng cung,
sống giữa nhung lụa, kẻ hầu người hạ không thiếu, mà nàng cảm thấy bơ vơ,
rồi buồn tủi xót xa, chỉ muốn tìm cách bỏ đi, không chút luyến tiếc. Bởi vì
con người ta vốn là vậy, nên dẫu là thần thánh, thì khi tình yêu đã hết, tất cả
sẽ chỉ là vô nghĩa.
Thế rồi một hôm, nhân khi Hoàng tử bỏ đi chơi lâu ngày, nàng tìm thấy cây
kỳ nam mà khi trước bọn lính đã đem dấu biệt. Nàng gọi hai con đến rồi đọc
một câu thần chú, thế là cả ba mẹ con cùng nhập vào cây kỳ nam. Cây kỳ
nam tự chuyển động rời khỏi hoàng cung rồi lăn xuống sông. Từ sông, kỳ
nam dòng nước trôi ra biển. Biển lúc ấy bỗng nhiên nổi luồng gió trái. Và
theo chiều gió, cây kỳ nam trôi mãi, trôi mãi ... Cuối cùng trở lại biển phương
Nam.
Đến đúng trước cù lao Huân thì gió lặng và cây kỳ nam dừng lại. Cây trôi
https://thuviensach.vn
vào sát mép nước. Từ thân cây, cả ba mẹ con bỗng chốc hiện ra, bước lên bờ,
rồi trở về nhà cũ. Cả hai ông bà cha mẹ nuôi lúc ấy đều đã mất. Nhà vắng vẻ
tiêu điều. Ba mẹ con bắt tay ngay vào việc dọn dẹp sửa sang cửa nhà, lập bàn
thờ cha mẹ, ông bà tổ tiên, rồi cùng làm ăn sinh sống với dân làng. Từ đấy trở
đi, quê hương, vùng cù lao Huân mỗi ngày một thêm ấm no, trù phú. Thế rồi
đến một hôm, giữa lúc trời quang mây tạnh, trước sự chứng kiến và ngạc
nhiên của mọi người, cả ba mẹ con cùng bay vút lên trời ...
Ở phương Bắc, Hoàng tử đi chơi về thấy vợ con mất tích. Tìm cây kỳ nam
ngày trước thì cũng chẳng thấy đâu. Chàng hối hận vô cùng, lòng tự nhủ lòng
sẽ tìm ra bằng được ba mẹ con, dẫu có phải đi xuống tận địa ngục.
Khi xưa, lúc ở bờ biển chàng có nghe dân chúng nói cây gỗ này trôi từ biển
phương Nam lại. Thế là Hoàng tử vào từ biệt vua cha và hoàng hậu, rồi cùng
một số gia nhân, binh lính và thủy thủ xuống thuyền, dong buồm vượt biển
hướng về phương Nam.
Khi thuyền vừa đúng đến cửa Đại An thì bỗng đâu một trận cuồng phong dữ
dội nổi lên. Thuyền đắm, cả Hoàng tử cùng gia nhân thủy thủ đều chìm sâu
xuống đáy nước. Nhưng khi cơn bão tan thì tự nhiên biển ở chỗ ấy cũng nổi
lên một mô đá nhỏ, vượt cao khỏi mặt nước. Trên mặt mô đá có những hình
thù ngoằn ngoèo tựa như những hàng chữ nổi. Từ bao đời nay, đã có nhiều
người hay chữ và kiến thức uyên bác đi thuyền tới đó, nhưng chưa ai đọc
được đấy là những chữ gì. Và có lẽ như thế nên có thể cho rằng, những điều
bí mật của thiên cơ, chắc còn lâu người ở dưới trần gian mới có thể hiểu thấu
được hết.
Ba mẹ con nàng tiên đã về trời, nhưng từ đó đến nay vẫn thường hiển linh ở
các nơi gần xa quanh vùng cửa Đại An, vùng cù lao Huân, cù lao Yến. Vì vậy
dân đi biển, đi đánh cá, đi tìm tổ yến vẫn thường bày lễ vật, thắp hương rồi
hướng mặt lên trời cao cầu xin sự che chở, phù hộ độ trì của nàng tiên, mà từ
đó trở đi được kính cẩn tôn xưng là bà chúa Ngọc.
Bà chúa Ngọc còn được gọi là bà chúa tiên hay Thánh mẫu Thiên Ya na, theo
cách gọi của người Chăm pa, một dân tộc đã định cư lâu dài ở vùng đất này.
Từ Huế đến Nha Trang ở đâu cũng có điện thờ bà chúa Ngọc. Triều Nguyễn
có sắc thượng phong cho bà là "Hồng Nhân phổ tế linh ứng Thượng đẳng
thần".
https://thuviensach.vn
Tại Nha Trang có tháp lớn cao sáu trượng để thờ bà chúa Ngọc. Lại có cả
những tháp nhỏ xung quanh để thờ Hoàng tử, hai người con và hai ông bà bố
mẹ nuôi. Bia đặt trong tháp lớn do chính tay quan đại thần Phan Thanh Giản
thời Tự Đức soạn.
Trước kia, hàng năm triều Nguyễn đều ủy thác cho bộ Lễ về đây làm lễ quốc
tế.
https://thuviensach.vn
Bình Khôi Công Chúa
Bình Khôi Thông Tuệ Trinh Thục Công Chúa, Đại Vương. Là tước hiệu mà
triều Lê thượng phong cho bà Trưng Nhị, nguyên là phó tướng, phó vương
của bà Trưng Trắc (Trưng Vương) trong cuộc khởi nghĩa mang tên Hai Bà.
Cũng như chị, bà Trưng Nhị là một nữ tướng thao lược, đã cùng khởi nghĩa
và lập nên nhiều chiến công hiển hách.
Ngồi trên bành voi, Hai Bà chỉ huy tướng sĩ, đốc thúc lực lượng tiêu diệt
thành Luy Lâu và nhiều huyện, thành khác.
Khi cuộc khởi nghĩa thắng lợi, bà Trưng Trắc xưng vương, đóng đô ở Mê
Linh, còn bà Trưng Nhị cũng được phong vương, đóng quân ở thành Dền.
Thành Dền, tên chữ là Cự Triền, được xây dựng ở trang Cự Triền, đến nay
hãy còn dấu vết, cách thành Mê Linh khoảng 9 dặm.
Thành đắp hình bán nguyệt, có tường cao hào sâu, bốn bề có tháp canh, lại có
cổng thành chắc chắn, quân lính canh gác ngày đêm cẩn mật. Trong thành có
chỗ ăn chỗ nghỉ cho quân sĩ, có chỗ luyện tập, thi đấu võ nghệ, lại có giếng
nước, kho lương đầy đủ.
Khi trận chiến đấu ở Lãng Bạc thất thế, Hai Bà rút về thành Dền cố thủ. Quân
địch đánh mãi không được, Mã Viện phải dùng kế bao vây lâu dài.
Y sai đắp một thành khác, cách thành Dền 3 dặm, gọi tên là thành Vượn
(thuộc xã Tam Đồng, Yên Lãng). Từ thành Vượn và từ phía Mê Linh (nơi
quân giặc đã chiếm) chúng án ngữ các đường tiếp tế và tổ chức nhiều đợt tấn
công vào thành Dền. Bất đắc dĩ Hai Bà phải bỏ thành Dền, lui về đất Cẩm
Khê.
Tại Cẩm Khê, nhiều cuộc chiến đấu nữa diễn ra. Cuối cùng vì lực lượng ít,
quân ta đã thất bại. Cả Hai Bà đều nhảy xuống sông Hát tự tận.
Lại có thuyết nói bà Trưng Nhị bị tử thương trên sông Nguyệt Đức, lúc ấy
https://thuviensach.vn
đang có bão, từng đợt sóng đang dâng lên cuồn cuộn. Quân ta thừa thế xông
vào trận địa cướp lấy thi thể của vị chủ tướng rồi vượt sóng đưa về an táng
trên núi Hy Sơn thuộc đất Phong Châu ngày nay.
Tại Phong Châu và thành Dền có đền thờ của bà Trưng Nhị. Còn tên của bà,
từ bao đời nay, vẫn gắn liền với bà Trưng Trắc. Nhân dân gọi hai vị khởi
xướng và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đầu tiên, đơn giản chỉ là "Hai Bà Trưng",
một cách gọi thật dân dã, gần gũi mà kính trọng.
https://thuviensach.vn
Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng
Thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm (Ba Vì Hà Tây) xưa nay là miền đất đai trù
phú, sản vật dồi dào, lại có sông ngòi bao quanh, tạo nên nhiều phong cảnh
đẹp.
Vào thời nước ta thuộc Đường (603-906) ở thôn này có gia đình họ Phùng
thuộc loại giàu có, truyền qua 5 đời đều là quan lang, làm tù trưởng Châu
Đường Lâm (gần bằng một huyện bây giờ). Các đời trước là Phùng Khiêm,
Phùng Thông, Phùng Đạt. Đến Phùng Viễn thì sinh con trai trưởng là Phùng
Hưng. Ba năm sau lại sinh hai con trai nữa là Phùng Hải và Phùng Mâu.
Đến tuổi trưởng thành ba anh em họ Phùng đều là những chàng trai chí khí,
đảm được hơn người. Đặt biệt Phung Hưng và Phùng Hải lại có thêm sức
mạnh phi thường.
Một lần vào rừng, Phùng hưng bị hổ vồ nhưng nhanh nhẹn né tránh được rồi
vật nhau với hổ, và cuối cùng đánh chết hổ, mang về.
Còn Phùng Hải thì đã có lần thử sức, vác cả một con thuyền nặng nghìn hộc,
đi được hơn mười dăm mới dừng.
Khi người cha già yếu thì phùng hưng mới nói nghiệp, cũng làm tù trưởng
Châu Đường Lâm, được các châu ấp lân cận mến phục.
Dưới ách cai trị của quan quân nhà Đường, dân ta thường ấy phải triệu trăm
bề điêu đứng. Trước đó đã có các cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên (năm 687)
rồi của Mai Thúc Loan (năm 722) nhưng đều bị đàn áp.
Đến năm đại lịch thứ hai (767) có giặc cướp đi thuyền lớn từ biển phía nam
(đảo Java) tới, Đô úy Châu Vũ Định là Cao Chính Bình đánh dẹp được. Rồi
bình ở lai cái trị, bắt dân đống góp rất nặng nề.
Phùng Hưng tự nhủ: Đất nước ta từ khi có vua Hùng lập quốc, có núi tả Sông
Hồng anh linh đến vạn thuở, cớ sau bây giờ vẫn phải chìm đắm mãi trong
cảnh lầm than? Ta phải cùng các anh hùng hào kiệt cứu lấy gian sơn, đánh
https://thuviensach.vn
cho giặc bắt tan tành. Đất nước ta phải do người nước ta làm chủ, chứ lẽ nào
phải cống nạp mãi?
Thế rồi Phùng Hưng nuôi ý định dấy binh.
Trước hết ngài bàn việc đó với hai người em. Cả hai người em cũng cùng có
chí hướng như Ngài.
Vào đúng ngày đầu tháng ba (âm lịch), ba anh em lập một đàn tràng, thảo sớ
tấu trình Ngọc Hoàng Thượng đế, xin về việc dấy binh khởi nghĩa sắp tới.
Đột nhiên có đám mây ngũ sắc sà xuống, một tiên ông tóc bạc trắng đỗ hạc
bước ra. Anh em Phùng Hưng cúi đầu bái tạ.
Tiên ông nói:
- Ta ở Tây Vực, đi chu du chín châu tám biển, thấy hương trầm ngào ngạt, lại
thấy đàn tràng thiết lập trang ngghiêm, nên cảm động mà tới.
Nói xong, tiên ông lấy từ túi áo ra một chiếc móng rồng và một khối ngọc,
đưa cho Phùng Hưng.
Ba anh em cúi đầu cảm tạ, nhưng vừa ngẩng lên, đã thấy đám mây ngũ sắc sà
xuống, và tiên ông cưỡi hạc bay đi. ba anh em lại vội vàng nhìn xuống ...
Nhìn hai báu vật, cả ba anh em đều băn khoăn, không biết dùng để làm gì?
Lại phải thỉnh cầu Thượng đế lần thứ hai vậy.
Họ thay lễ vật trên đàn tràng, thay đèn nhang và cùng quỳ xuống. Phùng
Hưng đọc tờ sớ như sau:
- Chúng con lòng thành, xin kính dâng Ngọc Hoàng Thượng đế. Ngài đã ban
cho hai báu vật, nhưng chúng con người trần mắt tục, chưa biết dùng vào việc
chi. Vậy kính mong Ngài hãy mở lòng chỉ bảo.
Phùng Hưng vừa dứt lời, đã thấy giữa không trung nổi lên một ánh chớp sáng
lòa. Lập tức, bốn thiên thần đội mũ trụ, cũng cưỡi mây bay xuống. Một vị
nói:
https://thuviensach.vn
- Ngọc Hoàng phái Tiên ông xuống cho Ngài hai báu vật ấy, một làm chuôi
kiếm, một làm quốc ấn. Tác thành như vậy là để Ngài dùng vào việc giữ
nước.
Nói xong, cả bốn thiên thần liền cươic mây bay đi. Anh em Phùng Hưng chỉ
còn biét quỳ xuống bái tạ.
Thế là thhuận lòng trời! Sau lễ tế cáo, ba anh em chế tạo ngay một thanh
kiếm thật sắc, ròi tra vào chuôi được làm từ móng rồng, ở giữa khắc ba chữ
"Thiên linh kiếm". Còn khối ngọc đã sẵn có hình vuông, chỉ khắc vào mấy
chữ là thành quốc ấn. Ba anh gọi đó là "Thiên bảo ấn".
Từ đó, Phùng Mâu ở nhà trông coi công việc trong châu, còn Phùng Hưng và
Phùng Hải chia nhau đi khắp các vùng gần xa, chiêu tập hào kiệt.
Để đánh lạc hướng chú ý giặc, Phùng Hưng đổi tên Cự Lão, Phùng Hải đổi
tên là Cự Lực. Sẵn có sức khỏe hơn người, hai anh em đến các sới vật thường
xuyên tổ chức trong các kỳ lễ hội tại các địa phương, vừa để tham gia mà
cũng vừa là cách tốt nhất để nhận mặt làm quen với các anh tài. Phùng Hưng
xưng là Đô Quân, Phùng Hải xưng là Đô Bảo.
Đi đến đâu hai anh em cũng được mọi người mén mộ. Các tay đô vật ở khắp
các trang ấp đều rất mực phục tài anh em Đô Quân và Đô Bảo, lại vừa nhận
thấy ở họ những tấm lòng thật hào hiệp, quảng đại, nên khi nghe nói tới việc
dựng cờ khởi nghĩa, họ đều nhiệt liệt hưởng ứng và cùng nhau hẹn ngày khởi
sự.
Sau mấy tháng đi khắp các vùng, anh em Phùng Hưng, Phùng Hải trở về nhà.
Nhân ngày húy kỵ ông bố 11 tháng 3, ba anh em làm cỗ thật to, mời tất cả
anh em, họ mạc và dân làng. Lại mời tất cả bạn bè và hàng ngũ chức sắc dưới
quyền trong châu Đường Lâm, đó là các trang ấp trưởng.
Trong bữa cổ, mọi người ăn uống vui vẻ, rồi sau đó bàn sang chuyện khởi
nghĩa. Anh em Phùng Hưng đưa ra "Thiên linh kiếm" và "Thiên bảo ấn". Các
trang ấp trưởng và mọi người đều đặt tay lên ngựa mà và hứa: "Chúng tôi
nguyện xin đem hết tài năng" ...
Ba ngày sau, mấy ngàn dân binh đã được tuuyển mộ. Để Phùng Mâu ở lại
https://thuviensach.vn
trông coi các việc, còn Phùng Hưng, Phùng Hải mượn tiếng là đi tuần thú
trong châu, đã dẫn quân chếch xuống phía nam, đến Thời Trung trang (nay là
làng Chuông, tức xã Phương Trung - Thanh Oai - Hà Tây) thì dừng lại.
Đây là địa điểm thuận lợi cho việc tập luyện, phiên chế quân ngũ, vừa đủ xa
để bọn giặc đóng ở thành Đại La (Hà Nội) không dòm ngó tới, lại vừa đủ gần
để từ đây có thể hành quân bất ngờ tấn công quân địch.
Thời Trung trang cách thành Đại La khoảng ngoài hai chục cây số (theo đơn
vị đo lường chiều dài bây giờ), hành quân nửa ngày là đã lên tới nơi.
Tại đây, như đã hẹn trước, các anh tài khắp nơi mang theo những người cùng
chí hướng, lục tục tìm về. Trong vòng một tuần quân số đã lên tới hàng vạn.
Sau mấy tuần phiên chế và tập luyện, vào đầu mùa Hạ, tháng 4 - 791 (Đường
Trinh Nguyên năm thứ 7), theo kế của Đỗ Anh Luân một danh sĩ cùng người
Đường Lâm, là bạn chơi với Phùng Hưng từ nhỏ, nay là quân sư lo việc bày
binh bố trận- anh em Phùng Hưng, Phùng Hải đã mang quân chia làm hai
ngả, bao vây thành Đại La trong đêm tối.
Cao Chính Bình mặc dù là viên tướng đảm lược, nhưng cũng đành chịu bó
tay thúc thủ trong thành, vì quá bị bất ngờ. Không thể đem quân nống ra
ngoài được, vì các nơi hiểm yếu đã bị chặn giữ, Cao Chính Bình đành phải
cho một vài tên lính lanh lợi, giữa đêm tối tìm cách lẻn ra, đưa thư cấp báo về
nhà Đường, xin tiếp viện.
Ba tháng ròng, thành Đại La bị vây chặt. Các đòan viện binh của nhà Đường
đến đều bị quân của Phùng Hưng đánh tan. Cao Chính Bình hay tin lo lắng
quá thành khối u lớn ở sau lưng. Rồi khối u vỡ, Coa chính Bình rồi cũng chết.
Khi tin Cao Chính Bình chết bay ra ngoài thành, Phùng Hưng hạ lệnh cho
quân lính từ các nơi hiểm yếu, nhất loạt tiến công. Quân nhà Đường chống
không nổi, phải kéo cờ trắng ra hàng.
Phùng Hưng dẫn đại binh vào chiếm Đô hộ phủ trong niềm hân hoan của mọi
người. Tướng sĩ suy tôn ngài là Vi đô Tướng quân.
Vi đô Tướng quân lập tức bắt tay vào việc chấn hưng đất nước và xây thành
https://thuviensach.vn
đắp lũy, luyện tập binh mã, đẻ đối phó với nhà Đường sau này. Ngài chưa
xưng Đế, nhưng thực sự đã điều hành công việc như một vị Hoàng đế. Ngài
mang lại cho muôn dân cảnh no ấm, thái bình, không phải đem lễ vật cống
nạp cho ngoại bang, và các thuần phong mỹ tục trong nước cũng đang được
khôi phục lại.
Nhưng thật tiếc thay, những công việc mà Ngài thực thi đang tiến triển thì
dừng lại, bởi cái chết đến quá đột ngột, vào đúng bảy năm sau tức năm 798,
lúc đó Ngài mới đang ở độ tuổi sung mãn.
Xét về công lao cũng như tài năng, đức độ, nhiều người muốn lập Phùng Hải
lên thay, vì thấy ông xứng đáng nhất. Nhưng một người đầu mục phụ tá cho
Phùng Hưng, và sau này phụ tá cho Phùng An, con trai trưởng của Phùng
Hưng tên là Bồ Phá Cần, không tán thành.
Bồ Phá Cần là người có sức mạnh vô song, nhưng liều lĩnh và thiển cận, một
mực lập Phùng An lên thay, rồi đem quân chống lại Phùng Hải. Không muốn
nhìn thấy cảnh máu chảy đầu rơi, lại cốt nhục tương tàn nên Phùng Hải né
tránh, cùng vài người thân tín, bỏ lên ở động Chu Nham, rồi sống cuộc đời
dân giã cho đến lúc mã chiều xế bóng.
Phùng An nối nghiệp bố, nhưng là người không có đảm lược lớn. Một người
như thế chỉ có thể trị vì đất nước trong cảnh thái bình, còn khi đất nước có
biến động thì sẽ không đảm đương nổi.
Công việc đầu tiên mà Phùng An tiến hành là tổ chức lễ an táng cho cha thật
trọng thể. Sự trọng thể lại càng tăng gấp bội phần, vì tất cả dân chúng và binh
lính đều thực lòng tiếc thương vị anh hùng của mình vừa nằm xuống.
Dân chúng và binh lính đưa tang, khóc Ngài đến đỏ hoe cả hai con mắt. Họ
thương tiếc, gọi Ngài là Bố Cái, tức cha mẹ, theo cách gọi của thời bấy giờ.
Rồi họ lại gọi Ngài là Đại vương, như trước đó vẫn gọi Ngài như thế. Phùng
An con trai Ngài, do cảm nhận được những tình cảm ấy của dân chúng và
binh lính cũng suy tôn Ngài làm "Bố Cái đại vương". Và cái tên ấy còn mãi
đến ngày nay.
Nhưng tiếc thay, Phùng An là người tài hèn trí mọn, không nối được cái chí
của cha, chú. Hai năm sau Đường Đức Tông sai Triệu Xương sang làm An
https://thuviensach.vn
Nam Đô hộ phủ. Xương đi sau, sai sứ giả đem đồ lễ vật đi trước để dụ dỗ An.
An sắp xếp nghi vệ đầy đủ, dẫn quần thần ra hàng.
Những người họ Phùng nhiều chí khí và nhiều người họ khác nữa, thấy vậy,
bèn tản đi các nơi, không muốn ở lại hợp tác với giặc.
Khi Phùng Hưng mất, mộ được táng tại phía tây bắc Kinh thành và được lập
miếu thờ. Ngày nay, ở đầu phố Giảng Võ - Hà Nội, vẫn còn ngôi mộ của
Ngài, trên có văn bia, đề bốn chữ "Phùng Hưng cố lăng". Còn tại quê hương
của Ngài, ngay từ khi Ngài mới mất, dân chúng đã lập miếu thờ. Truớc là để
tỏ lòng nhớ thương, còn sau là để cúng lễ, cầu mong Ngài ban cho mưa thuận
gió hòa, tai qua nạn khỏi hoặc làm ăn phát đạt.
Tất cả đều thấy ứng nghiệm, vì vậy "mỗi khi vào ngày tạ lễ, người đến nhiều
như núi như biển, bánh xe chật đường". Về sau, dân chúng xây dựng
thêm,"miếu maọ nguy nga, lửa hương bất tuyệt"(theo Việt điện u linh).
Đúng 100 năm, sau ngày Ngài mất, cũng tại quê hương của ngài (Đường
Lâm), một người anh hùng nữa đã ra đời. Đó là Ngô Quyền (898 - 944). Sau
khi giết Kiều Công Tiễn trả thù cho bố vợ (Dương Đình Nghệ), Ngô Quyền
xưng vương, rồi đánh tan quân Nam Hán ở cửa sông Bạch Đằng. Trước trận
đó, thấy quân giặc đông, nhả vua cũng có phần lo lắng, nhưng"đêm nằm
mộng, bỗng thấy một ông già tóc bạc, mũ áo nghiêm trang ... xưng là Phùng
Hưng đến cổ vũ và hứa sẽ đem vạn đội thần binh mai phục trước ở chỗ hiểm
yếu" (theo Việt điện u linh).
Sau trận thắng, nhà vua tạ ơn, xuống chiếu lập đền thờ Phùng Hưng ở làng
Cam Lâm to hơn quy môcũ, và tổ chức lễ hội thật trọng thể. Từ đó thành điển
lệ. Các triều đại về sau đều có sắc thượng phong: "Phụ hựu", "Chương tín",
"Sùng nghĩa". Đó là những tên hiệu mà các triều Trần trùng hưng đã tặng
...
THÔNG TIN EBOOK
Tên sách: Truyền thuyết Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Thể loại: History
Năm xuất bản: 2010
Số hóa: Hoàng Nghĩa Hạnh
Tạo và hiệu chỉnh ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
https://thuviensach.vn
Bát Nàn Công Chúa
Thời nhà Hán đô hộ, vùng Phượng Lâu, Đức Bác thuộc huyện Phù Ninh tỉnh
Vĩnh Phú ngày nay là một trang ấp lớn dưới quyền ông Vũ Chất và bà Hoàng
Thị Mẫu cai quản. Ngoài công việc nông trang ông bà còn biết nhiều bài
thuốc chữa chạy cho những ai đau yếu bệnh tật, nên được dân chúng khắp
vùng mến phục.
Nàng Thục Nương, con gái của ông bà, là người tài đức, có võ nghệ cao
cường, lại có dung mạo xinh đẹp tuyệt vời. Đến tuổi trưởng thành Thục
Nương hứa hôn với Phạm Danh Hương là một chàng trai anh tuấn, con của vị
huyện trưởng Nam Châu.
Tiếng đồn về tài sắc của Thục Nương đến tai thái thú Tô Định của quận Giao
Chỉ. Y sai bày tiệc rượu rồi cho mời ông Vũ Chất đến để cầu thân. Ông Vũ
Chất từ chối, nói là con gái mình sắp lấy chồng. Tô Định không tin, liền sai
mời cả Phạm Danh Hương cùng đến. Y nói với ông Vũ: nếu đúng như vậy thì
y sẽ đứng ra làm chủ hôn.
Giữa bữa tiệc, Tô Định ra ám hiệu hất chén rượu, thế là bọn thủ hạ trực sẵn
hai bên lập tức xông ra lôi tuột ông Vũ Chất và Phạm Danh Hương đem giết
đi. Sau đó Tô Định cho một toán quân đến trang Phượng Lâu để bắt Thục
Nương đem về dinh.
Nhưng người thân tín theo ông Vũ Chất vào dinh Tô Định đã nhanh chân
chạy về báo trước. Thục Nương vô cùng căm giận, vội thu xếp cho mẹ và gia
quyến đi trước, còn tự mình thì ở lại chờ giặc.
Khi quân Tô Định tới nơi, thục Nương múa song kiếm xông ra, tên cầm đầu
cùng mấy tên nữa bị giết. Những tên còn lại hoảng hốt bỏ chạy. Thục nương
cũng vội thu xếp tư trang hành lý, rồi mau chóng lánh mình.
Nàng đi mãi đi mãi ... xuống phía Nam. Khi tới một ngôi chùa nhỏ ở ấp Tiên
La bên bờ sông Thiên Đức, thuộc địa phận tỉnh Thái Bình ngày nay, thì dừng
lại.
https://thuviensach.vn
Đêm ấy các vị bô lão trong ấp Tiên La đều nằm mộng thấy thần thành hoàng
đến báo có vị thượng nhân ở nơi khác tới chùa. Sáng hôm sau các vị bô lão
kéo đến tập trung trước sân chùa. Một số người mở cửa vào trong thấy sau
ngôi tam bảo có một người con gái đang đứng, tay cầm song kiếm. Thục
Nương lúc ấy nghe có tiếng động tưởng quân Tô Định đến bao vây, liền đứng
vào thế thủ sẳn sàng chiến đấu.
Thấy vậy các vị bô lão vàđân làng vội vàng quỳ xuống, kể lại giấc mộng đêm
qua. Thục Nương cảm động cũng quỳ xuống đáp lễ, rồi thuật lại gia cảnh của
mình. Tất cả đân làng đều nhất tề hãy ở lại làm ăn sinh sống để chờ thời cơ
giết giặc, bởi vì sưu cao thuế nặng và sự dã man tàn bạo của quân thù làm
cho ai nấy đều căm giận trong lòng.
Thấy mọi người đồng tâm đồng ý, lại thấy nơi đây địa hình thuận lợi có thể
lập căn cứ được, Thục Nương đã vui lòng ở lại.
Từ đó Thục Nương trông coi chùa Tiên La. Nàng xuống tóc đi tu nhưng tâm
trí thì lúc nào cũng nấu nung đến nợ nước trả thù nhà. Vốn là người có võ
nghệ cao cường, lại tinh thông nhiều trận pháp nên Thục Nương bắt tay vào
việc tập luyện cho dân làng. Thế là mọi người lo sắm sửa khí giới, chuẩn bị
lương thực vàđêm đêm lại tập luyện võ nghệ, trận pháp. Các làng xung quanh
biết tin cũng kéo đến ngày đ êm mỗi đông. Dần ấp Tiên La trở thành một căn
cứ lớn, có mấy ngàn dân binh, được trang bị khí giới đầy đủ, lại tinh thông võ
nghệ và các trận pháp. Thục Nương phất cờ khởi nghĩa, được dân chúng tôn
xưng là Bát Nàn đại tướng quân, đã giao chiến nhiều trận với giặc và thu
được nhiều thắng lợi .
Lúc ấy Hai Bà Trưng đã dấy binh ở Mê Linh, chuẩn bị đánh thành Luy Lâu,
cho sứ giả đi khắp nơi truyền lệnh khởi nghĩa ...
Khi sứ giả đến Tiên La thì Bát Nàn tướng quân đã hay tin ở Mê Linh có cuộc
khởi nghĩa. Còn đang băn khoăn đem quân đến Mê Linh hay cứ ở lại độc lập
tác chiến thì một đ êm đang ngủ Bát Nàn mộng thấy một nữ thần xuất hiện,
tay cầm lá cờ xan. Nữ thần nói tuân lệnh ngọc hoàng xuống trao cho bà lá cờ,
rồi lại đọc bốn câu thơ:
Nữ binh, nữ tướng
https://thuviensach.vn
Thiên dĩ định danh
Vật khả độc lập
Sự nãi bất thành
Tạm dịch:
Tướng gái quân gái
Trời đã định danh
Chớ đứng một mình
Việc không thành được
Đọc xong nữ thần biến mất. Bát Nàng tướng quân tỉnh dậy và hiểu là mình
phải quyết định thế nào. Mấy hôm sau có sứ giả đến, Bà sai thù tiếp rồi ngay
sau đó tập hợp binh sĩ tiến về Mê Linh tụ nghĩa.
Thấy Bát Nàng tướng quân đến Hai Bà Trưng vô cùng mừng rỡ. Đây là một
lực lượng hùng mạnh lại dưới quyền chỉ huy của vị danh tướng tài ba. Sau
mấy ngày hội quân, Hai Bà giao cho Bát Nàn lĩnh đạo quân tiên phong tiến
đánh Luy Lâu. quả danh bất hư truyền, mỗi khi song kiếm của Bát Nàn tướng
quân múa tới đâu làđầu giặc rơi tới đó, quân Hán về sau chỉ vừa trông thấy đã
phải bỏ chạy .
Thành Luy Lâu và các thành khác bị hạ, Hai Bà Trưng xưng vương, phong
thêm Bát Nàn tướng quân là Trinh Thục công chúa, cho hưởng thực ấp và
quản lĩnh cả hai nơi là Tiên La (Thái Bình) và Phượng Lâu (Vĩnh Phú).
Khi Mã Viện kéo quân sang xâm lược, sau trận Lãng Bạc, Hai Bà Trưng rút
về Cẩm Khê, Bát Nàn tướng quân cũng rút về Tiên La. Tại đây khi thấy tình
thế đang lúc khó khăn, bà cho giải tán lực lượng, ai về nhà ấy làm ăn sinh
sống, để chờ thời cơ, còn bà, tự mình cũng về tu trong chùa cũ.
Tuy vậy, bà và các thủ lĩnh vẫn thỉnh thoảng gặp gỡ nhau để bàn bạc đại sự.
Quân giặc vẫn ngày đêm cho lính đi dò la tin tức của bà. Một đêm trăng sáng
https://thuviensach.vn
khi bàđang cùng mọi người họp mặt thì quân giặc bỗng ở đâu ập tới. Chúng
kéo mỗi lúc một đông. Bát Nàn tướng quân múa song kiếm tử chiến với giặc.
Bà tả xung hữu đột, phá vòng vây rồi chạy tới một gốc cây tùng. Tại đây do
vết thương quá nặng nên bàđã gục xuống và hóa. Đó là lúc rạng sáng ngày 18
tháng 3 âm lịch.
Sau này, mọi người Tiên La đã lập đền thờ bà ngay tại gốc cây tùng đó và lấy
ngày bà tử nạn làm ngày lễ.
Các làng Phượng Lâu, Đức Bát ở Vĩnh Phú cũng lập đền thờ bà. Các triều đại
trước kia đều có sắc thượng phong cho bà.
https://thuviensach.vn
Bà Chúa Ngọc
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng
già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm
nghề trồng dưa. Năm ấy, đến độ dưa chín, sáng nào ra ruộng thăm, ông bà
cũng thấy dưa bị hái trộm. Lạ một điều, chỉ có một quả dưa lớn nhất đẹp nhất
là bị hái, nhưng kẻ trộm không ăn mà cũng chẳng mang đi. Quả dưa còn nằm
ở một chỗ trống, nhưng bưng lên đã thấy bị nẫu.
Thấy sự lạ, hai ông bà bèn bàn nhau cất công để ý rình. Rồi một đêm trăng
sáng, họ đến nấp vào một bụi cây cạnh ruộng. Gần đến nửa đêm, bỗng đâu có
cô gái trạc độ mười ba mười bốn tuổi tự nhiên hiện ra ở giữa ruộng dưa. Cô
gái rón rén đi, nhìn ngắm từng quả dưa một, rồi sau đó, hình như đã chọn
được quả ưng ý nhất thì cúi xuống hái lên. Cô ngắm đi ngắm lại mãi, rồi tìm
ra một chỗ trống, tung quả dưa từ tay bên này sang tay bên kia, và cứ như thế,
một lúc lâu, sau lại ôm lấy quả dưa mà ngắm nghía mãi không biết chán ...
Đúng lúc ấy, từ chỗ nấp, hai ông bà chạy ùa cả ra, nắm ngay lấy tay cô gái.
Còn cô gái, tuy không chạy trốn kịp nhưng cũng chẳng tỏ ra có chút gì sợ hãi.
Cô trả cho họ quả dưa, và khi được hỏi thì cô lễ phép trả lời: Cô là con nhà
nghèo không còn cả cha lẫn mẹ, nhà cô ở cách đây rất xa và cô cũng chẳng
nhớ được quê mình ở đâu nữa ...
Thấy cô gái dễ thương, lại nghĩ mình không có con cái, nên ông bà bàn nhau
nhận cô về làm con nuôi, rồi cả hai cùng nói với cô gái ...
Còn cô gái, thấy cử chỉ, lời lẽ của hai ông bà đều chân thành thì cô im lặng
lắng nghe và suy nghĩ, rồi sau đó nhận lời.
Cô theo họ về nhà. Sáng hôm sau, hai ông bà sửa lễ gia tiên, rồi hai bên chính
thức nhận nhau là bố mẹ và con cái. Từ đấy trong ngôi nhà của họ, không khí
vui vẻ đầm ấm hẳn lên. Hai ông bà hết lòng yêu thương chăm sóc cô, còn cô
thì cũng rất mực yêu thương kính trọng bố mẹ.
Một hôm trời đổ cơn mưa lớn, nước lũ ở thượng nguồn tràn về mênh mang,
khiến mọi người đều ở trong nhà không ai đi làm được cả. Bố mẹ cô, lẽ dĩ
https://thuviensach.vn
nhiên là rất lo lắng, mong sao cho nước mau cạn để cây cối khỏi bị chết úng,
thì cô, do tính tình còn trẻ dại, lại thích nô đùa. Rồi cô xuống bên mé nước
cậy đá lên, xếp chúng thành một hòn núi giả, lại đi tìm những cành lá gẫy
cắm vào xung quanh, để chơi ...
Thấy vậy, ông bà bực quá, nghĩ rằng con cái chẳng hiểu được lòng bố mẹ,
bèn lên tiếng trách cứ rồi la mắng. Nào ngờ, cô gái thấy tủi thân quá, bèn lủi
ra đầu hồi nhà, đứng khóc một mình. Một lúc lâu sau, nhân lúc bố mẹ không
ai để ý, cô lại lén ra khỏi nhà, rồi men theo những dải đất cao, đi ra phía bờ
biển. Cũng lúc ấy, dập dềnh bên mé nước có một cây gỗ kỳ nam, không biết
trôi từ đâu đến. Cô gái còn khóc hồi nữa, rồi nhìn quanh nhìn quẩn, thấy
mình hoàn toàn lẻ loi, cô đơn, cô bèn nhảy luôn lên cây gỗ, và một điều kỳ lạ
xảy ra: Cô gái đã nhập thân vào cây gỗ. Cây gỗ dập dềnh ở đấy một lúc nữa,
như có điều gì còn ghi nhớ và lưu luyến, rồi sau đó, theo sóng biển, trôi mãi
lên phương Bắc ...
Ông bà bố mẹ nuôi cô gái đang bận việc chẻ củi và may vá trong nhà, tưởng
con khóc rồi chơi ở ngoài đầu hồi, nên cũng không để ý. Đến mãi sau, khi lên
tiếng gọi thì chẳng thấy con đâu! Hai ông bà bèn nháo nhào đi tìm nhưng
khắp chốn cùng nơi, cũng vẫn tuyệt âm vô tín. Nước lụt mênh mang như thế,
lại đang cuộn chảy mãi ra biển, họ cho là con gái xảy chân đã trôi ra biển mất
rồi. Thế là ông bà gào thét, khóc than thảm thiết, sau đó làm lễ cúng chay cho
con, và từ đấy trở đi, sống âm thầm, rầu rĩ cho đến cuối đời ...
Còn cây gỗ kỳ nam, sau một hồi dập dềnh rồi trôi lên phương Bắc, và cứ thế
trôi mãi ... trôi mãi ... Đến khi sóng lặng gió yên thì đã trôi được cả ngàn dặm
đường và dạt vào bờ ...
Một buổi sáng dân địa phương nọ ra bờ biển, vô cùng ngạc nhiên thấy có cây
gỗ lạ rất đẹp trôi từ đâu đến. Họ bảo nhau mang thừng chão ra buộc vào rồi
cùng kéo lên bờ, nhưng hàng trăm người xúm vào mà cây vẫn không nhúc
nhích. Họ bèn đóng cọc ghim lại để tìm kế sách khác, và cũng từ đấy, dường
như ngay tức khắc, tiếng đồn về cây gỗ kỳ lạ đã lan ra khắp cả vùng.
Hoàng tử ở phương Bắc bấy giờ vào tuổi kén vợ, đang đi chu du khắp chốn
cùng nơi để tìm cho ra một người ưng ý. Khi đến vùng này, nghe chuyện cây
gỗ kỳ lạ, chàng cũng tò mò tìm đến. Thấy cây gỗ đẹp thì có đẹp nhưng cũng
không lớn lắm mà sao cả trăm người kéo không được thì chàng lấy làm lạ
https://thuviensach.vn
lắm. Cũng vẫn là tò mò, chàng xắn tay áo lên, bảo mọi người cho mình kéo
thử một cái xem sao.
Chiều ý Hoàng tử, mọi người lui cả ra. Nhưng thật vô cùng bất ngờ, khi
hoàng tử vừa cầm thừng co tay lại thì cây gỗ cũng lập tức chuyển động, rồi
dần dần, theo sức kéo mà tiến vào bờ. Đến khi chạm đất, Hoàng tử kéo mạnh
một cái nữa thì cây hoàn toàn đã nằm trên bãi biển.
Mọi người vô cùng phấn khởi, vỗ tay reo hò không ngớt. Xong xuôi, sau khi
hỏi ý kiến dân làng, Hoàng tử cho quân lính đem cây gỗ về Kinh đô .
Về phía dân làng, tuy cũng có người còn tiếc rẻ, nhưng đa phần cho rằng, đưa
cây gỗ về kinh là hợp lý hơn cả vì như vậy tất cả bàn dân thiên hạ sẽ đều
được chiêm ngưỡng. Còn về phía Hoàng tử thì cũng chẳng có vui mừng nào
hơn, chàng cho là có duyên cớ, bèn không tiếp tục đi tìm vợ nữa, mà cùng
quân lính trở về kinh, cùng với cây gỗ.
Khỏi phải nói, khi về đến Kinh đô thì mọi người, mọi nơi nghe tiếng, nao nức
tìm đến xem đông như thế nào. Nhưng rồi sự kiện ấy cũng mau chóng qua đi
bởi lẽ mọi người nhìn mãi rồi cũng chán, vì cây đẹp thì có đẹp nhưng chẳng
thấy có biểu hiện gì là lạ lùng cả. Mà dân chúng cần là cần sự lạ lùng, xưa
nay chưa từng có, chứ không phải là một cái cây đẹp.
Chỉ riêng có Hoàng tử, do chính tay mình đã chứng kiến và thực hiện được
một điều kỳ diệu, nên còn giữ mãi trong lòng sự vui mừng và niềm mong đợi.
Khi mọi người đã xem chán xem chê, đến mức không còn ai thiết xem nữa,
thì Hoàng tử mới sai quân lính đem cây về trước Đông cung để hàng ngày
được nhìn ngắm và gần gũi với cây.
Cây quả là đã có tình ý với Hoàng tử thật. Từ đó trở đi, mỗi đêm trăng sáng,
Hoàng tử bỗng thấy trong thân gỗ bước ra một người con gái xinh đẹp tuyệt
trần, và cùng lúc, là mùi hương thơm ngào ngạt tỏa ra theo mỗi bước chân
của nàng.
Mê mẩn trước người đẹp, Hoàng tử vội vàng chạy tới, nhưng lần nào cũng
vậy, hễ cứ giáp mặt, là người con gái lại biến ngay vào trong thân gỗ.
Sau vài lần như thế, Hoàng tử đã nghĩ ra được một cách, cũng khá đơn giản
https://thuviensach.vn
chứ chẳng có gì ghê gớm lắm.Chàng cho mấy người lính hầu đứng nấp ở
xung quanh, còn tự mình cũng nấp sẵn ở gần đấy. Khi cô gái vừa xuất hiện
thì Hoàng tử đã bước ra nắm chặt lấy tay nàng, và mấy người lính cũng lập
tức khiêng cây gỗ đem dấu biến đi. Hoàng tử bảo cô gái hãy vui lòng vì
chàng mà ở lại. Cô gái e lệ cúi đầu. Thế rồi, ngay lúc đó chàng dẫn nàng đến
trình với đức vua cha và hoàng hậu, kể lại hết đầu đuôi ngọn ngành, và xin
cha mẹ hãy tác thành cho họ.
Nhà vua lắng nghe, rồi nói: "Được. Để xem", xong cho gọi thị nữ đưa nàng
về phòng riêng, còn Hoàng tử thì trở về Đông cung.
Sáng hôm sau thiết triều, nhà vua cho triệu quan Thái bốc lại để bói xem điều
lành điều gở thế nào. Sau khi nghe tấu trình là quẻ đại phúc, nhà vua cả mừng
rồi ngay sau đó, cho cử đại lễ để hoàng tử sánh duyên cùng cô gái.
Từ đó, cuộc sum vầy của đôi trai gái diễn ra thật vô cùng êm ả, hạnh phúc.
Ba năm sau, họ sinh được một gái và một trai.
Tưởng rằng cuộc tình duyên ấy sẽ mặn nồng mãi mãi đến lúc đầu bạc răng
long. Nào ngờ Hoàng tử cũng là kẻ bạc tình, chỉ chung thủy được có mấy
năm đầu. Khi vợ đã có con thì chàng ta đâm ra hay chơi bời chứ chẳng quan
tâm được như trước. Nay rượu, mai cờ bạc, rồi đi dong duổi khắp nơi, không
chú ý gì đến việc dạy dỗ con cái. Nàng đã nhiều lần khuyên can nhưng chàng
vẫn chứng nào tật ấy, làm nàng rất chán nản. Vì vậy, ở trong hoàng cung,
sống giữa nhung lụa, kẻ hầu người hạ không thiếu, mà nàng cảm thấy bơ vơ,
rồi buồn tủi xót xa, chỉ muốn tìm cách bỏ đi, không chút luyến tiếc. Bởi vì
con người ta vốn là vậy, nên dẫu là thần thánh, thì khi tình yêu đã hết, tất cả
sẽ chỉ là vô nghĩa.
Thế rồi một hôm, nhân khi Hoàng tử bỏ đi chơi lâu ngày, nàng tìm thấy cây
kỳ nam mà khi trước bọn lính đã đem dấu biệt. Nàng gọi hai con đến rồi đọc
một câu thần chú, thế là cả ba mẹ con cùng nhập vào cây kỳ nam. Cây kỳ
nam tự chuyển động rời khỏi hoàng cung rồi lăn xuống sông. Từ sông, kỳ
nam dòng nước trôi ra biển. Biển lúc ấy bỗng nhiên nổi luồng gió trái. Và
theo chiều gió, cây kỳ nam trôi mãi, trôi mãi ... Cuối cùng trở lại biển phương
Nam.
Đến đúng trước cù lao Huân thì gió lặng và cây kỳ nam dừng lại. Cây trôi
https://thuviensach.vn
vào sát mép nước. Từ thân cây, cả ba mẹ con bỗng chốc hiện ra, bước lên bờ,
rồi trở về nhà cũ. Cả hai ông bà cha mẹ nuôi lúc ấy đều đã mất. Nhà vắng vẻ
tiêu điều. Ba mẹ con bắt tay ngay vào việc dọn dẹp sửa sang cửa nhà, lập bàn
thờ cha mẹ, ông bà tổ tiên, rồi cùng làm ăn sinh sống với dân làng. Từ đấy trở
đi, quê hương, vùng cù lao Huân mỗi ngày một thêm ấm no, trù phú. Thế rồi
đến một hôm, giữa lúc trời quang mây tạnh, trước sự chứng kiến và ngạc
nhiên của mọi người, cả ba mẹ con cùng bay vút lên trời ...
Ở phương Bắc, Hoàng tử đi chơi về thấy vợ con mất tích. Tìm cây kỳ nam
ngày trước thì cũng chẳng thấy đâu. Chàng hối hận vô cùng, lòng tự nhủ lòng
sẽ tìm ra bằng được ba mẹ con, dẫu có phải đi xuống tận địa ngục.
Khi xưa, lúc ở bờ biển chàng có nghe dân chúng nói cây gỗ này trôi từ biển
phương Nam lại. Thế là Hoàng tử vào từ biệt vua cha và hoàng hậu, rồi cùng
một số gia nhân, binh lính và thủy thủ xuống thuyền, dong buồm vượt biển
hướng về phương Nam.
Khi thuyền vừa đúng đến cửa Đại An thì bỗng đâu một trận cuồng phong dữ
dội nổi lên. Thuyền đắm, cả Hoàng tử cùng gia nhân thủy thủ đều chìm sâu
xuống đáy nước. Nhưng khi cơn bão tan thì tự nhiên biển ở chỗ ấy cũng nổi
lên một mô đá nhỏ, vượt cao khỏi mặt nước. Trên mặt mô đá có những hình
thù ngoằn ngoèo tựa như những hàng chữ nổi. Từ bao đời nay, đã có nhiều
người hay chữ và kiến thức uyên bác đi thuyền tới đó, nhưng chưa ai đọc
được đấy là những chữ gì. Và có lẽ như thế nên có thể cho rằng, những điều
bí mật của thiên cơ, chắc còn lâu người ở dưới trần gian mới có thể hiểu thấu
được hết.
Ba mẹ con nàng tiên đã về trời, nhưng từ đó đến nay vẫn thường hiển linh ở
các nơi gần xa quanh vùng cửa Đại An, vùng cù lao Huân, cù lao Yến. Vì vậy
dân đi biển, đi đánh cá, đi tìm tổ yến vẫn thường bày lễ vật, thắp hương rồi
hướng mặt lên trời cao cầu xin sự che chở, phù hộ độ trì của nàng tiên, mà từ
đó trở đi được kính cẩn tôn xưng là bà chúa Ngọc.
Bà chúa Ngọc còn được gọi là bà chúa tiên hay Thánh mẫu Thiên Ya na, theo
cách gọi của người Chăm pa, một dân tộc đã định cư lâu dài ở vùng đất này.
Từ Huế đến Nha Trang ở đâu cũng có điện thờ bà chúa Ngọc. Triều Nguyễn
có sắc thượng phong cho bà là "Hồng Nhân phổ tế linh ứng Thượng đẳng
thần".
https://thuviensach.vn
Tại Nha Trang có tháp lớn cao sáu trượng để thờ bà chúa Ngọc. Lại có cả
những tháp nhỏ xung quanh để thờ Hoàng tử, hai người con và hai ông bà bố
mẹ nuôi. Bia đặt trong tháp lớn do chính tay quan đại thần Phan Thanh Giản
thời Tự Đức soạn.
Trước kia, hàng năm triều Nguyễn đều ủy thác cho bộ Lễ về đây làm lễ quốc
tế.
https://thuviensach.vn
Bình Khôi Công Chúa
Bình Khôi Thông Tuệ Trinh Thục Công Chúa, Đại Vương. Là tước hiệu mà
triều Lê thượng phong cho bà Trưng Nhị, nguyên là phó tướng, phó vương
của bà Trưng Trắc (Trưng Vương) trong cuộc khởi nghĩa mang tên Hai Bà.
Cũng như chị, bà Trưng Nhị là một nữ tướng thao lược, đã cùng khởi nghĩa
và lập nên nhiều chiến công hiển hách.
Ngồi trên bành voi, Hai Bà chỉ huy tướng sĩ, đốc thúc lực lượng tiêu diệt
thành Luy Lâu và nhiều huyện, thành khác.
Khi cuộc khởi nghĩa thắng lợi, bà Trưng Trắc xưng vương, đóng đô ở Mê
Linh, còn bà Trưng Nhị cũng được phong vương, đóng quân ở thành Dền.
Thành Dền, tên chữ là Cự Triền, được xây dựng ở trang Cự Triền, đến nay
hãy còn dấu vết, cách thành Mê Linh khoảng 9 dặm.
Thành đắp hình bán nguyệt, có tường cao hào sâu, bốn bề có tháp canh, lại có
cổng thành chắc chắn, quân lính canh gác ngày đêm cẩn mật. Trong thành có
chỗ ăn chỗ nghỉ cho quân sĩ, có chỗ luyện tập, thi đấu võ nghệ, lại có giếng
nước, kho lương đầy đủ.
Khi trận chiến đấu ở Lãng Bạc thất thế, Hai Bà rút về thành Dền cố thủ. Quân
địch đánh mãi không được, Mã Viện phải dùng kế bao vây lâu dài.
Y sai đắp một thành khác, cách thành Dền 3 dặm, gọi tên là thành Vượn
(thuộc xã Tam Đồng, Yên Lãng). Từ thành Vượn và từ phía Mê Linh (nơi
quân giặc đã chiếm) chúng án ngữ các đường tiếp tế và tổ chức nhiều đợt tấn
công vào thành Dền. Bất đắc dĩ Hai Bà phải bỏ thành Dền, lui về đất Cẩm
Khê.
Tại Cẩm Khê, nhiều cuộc chiến đấu nữa diễn ra. Cuối cùng vì lực lượng ít,
quân ta đã thất bại. Cả Hai Bà đều nhảy xuống sông Hát tự tận.
Lại có thuyết nói bà Trưng Nhị bị tử thương trên sông Nguyệt Đức, lúc ấy
https://thuviensach.vn
đang có bão, từng đợt sóng đang dâng lên cuồn cuộn. Quân ta thừa thế xông
vào trận địa cướp lấy thi thể của vị chủ tướng rồi vượt sóng đưa về an táng
trên núi Hy Sơn thuộc đất Phong Châu ngày nay.
Tại Phong Châu và thành Dền có đền thờ của bà Trưng Nhị. Còn tên của bà,
từ bao đời nay, vẫn gắn liền với bà Trưng Trắc. Nhân dân gọi hai vị khởi
xướng và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đầu tiên, đơn giản chỉ là "Hai Bà Trưng",
một cách gọi thật dân dã, gần gũi mà kính trọng.
https://thuviensach.vn
Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng
Thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm (Ba Vì Hà Tây) xưa nay là miền đất đai trù
phú, sản vật dồi dào, lại có sông ngòi bao quanh, tạo nên nhiều phong cảnh
đẹp.
Vào thời nước ta thuộc Đường (603-906) ở thôn này có gia đình họ Phùng
thuộc loại giàu có, truyền qua 5 đời đều là quan lang, làm tù trưởng Châu
Đường Lâm (gần bằng một huyện bây giờ). Các đời trước là Phùng Khiêm,
Phùng Thông, Phùng Đạt. Đến Phùng Viễn thì sinh con trai trưởng là Phùng
Hưng. Ba năm sau lại sinh hai con trai nữa là Phùng Hải và Phùng Mâu.
Đến tuổi trưởng thành ba anh em họ Phùng đều là những chàng trai chí khí,
đảm được hơn người. Đặt biệt Phung Hưng và Phùng Hải lại có thêm sức
mạnh phi thường.
Một lần vào rừng, Phùng hưng bị hổ vồ nhưng nhanh nhẹn né tránh được rồi
vật nhau với hổ, và cuối cùng đánh chết hổ, mang về.
Còn Phùng Hải thì đã có lần thử sức, vác cả một con thuyền nặng nghìn hộc,
đi được hơn mười dăm mới dừng.
Khi người cha già yếu thì phùng hưng mới nói nghiệp, cũng làm tù trưởng
Châu Đường Lâm, được các châu ấp lân cận mến phục.
Dưới ách cai trị của quan quân nhà Đường, dân ta thường ấy phải triệu trăm
bề điêu đứng. Trước đó đã có các cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên (năm 687)
rồi của Mai Thúc Loan (năm 722) nhưng đều bị đàn áp.
Đến năm đại lịch thứ hai (767) có giặc cướp đi thuyền lớn từ biển phía nam
(đảo Java) tới, Đô úy Châu Vũ Định là Cao Chính Bình đánh dẹp được. Rồi
bình ở lai cái trị, bắt dân đống góp rất nặng nề.
Phùng Hưng tự nhủ: Đất nước ta từ khi có vua Hùng lập quốc, có núi tả Sông
Hồng anh linh đến vạn thuở, cớ sau bây giờ vẫn phải chìm đắm mãi trong
cảnh lầm than? Ta phải cùng các anh hùng hào kiệt cứu lấy gian sơn, đánh
https://thuviensach.vn
cho giặc bắt tan tành. Đất nước ta phải do người nước ta làm chủ, chứ lẽ nào
phải cống nạp mãi?
Thế rồi Phùng Hưng nuôi ý định dấy binh.
Trước hết ngài bàn việc đó với hai người em. Cả hai người em cũng cùng có
chí hướng như Ngài.
Vào đúng ngày đầu tháng ba (âm lịch), ba anh em lập một đàn tràng, thảo sớ
tấu trình Ngọc Hoàng Thượng đế, xin về việc dấy binh khởi nghĩa sắp tới.
Đột nhiên có đám mây ngũ sắc sà xuống, một tiên ông tóc bạc trắng đỗ hạc
bước ra. Anh em Phùng Hưng cúi đầu bái tạ.
Tiên ông nói:
- Ta ở Tây Vực, đi chu du chín châu tám biển, thấy hương trầm ngào ngạt, lại
thấy đàn tràng thiết lập trang ngghiêm, nên cảm động mà tới.
Nói xong, tiên ông lấy từ túi áo ra một chiếc móng rồng và một khối ngọc,
đưa cho Phùng Hưng.
Ba anh em cúi đầu cảm tạ, nhưng vừa ngẩng lên, đã thấy đám mây ngũ sắc sà
xuống, và tiên ông cưỡi hạc bay đi. ba anh em lại vội vàng nhìn xuống ...
Nhìn hai báu vật, cả ba anh em đều băn khoăn, không biết dùng để làm gì?
Lại phải thỉnh cầu Thượng đế lần thứ hai vậy.
Họ thay lễ vật trên đàn tràng, thay đèn nhang và cùng quỳ xuống. Phùng
Hưng đọc tờ sớ như sau:
- Chúng con lòng thành, xin kính dâng Ngọc Hoàng Thượng đế. Ngài đã ban
cho hai báu vật, nhưng chúng con người trần mắt tục, chưa biết dùng vào việc
chi. Vậy kính mong Ngài hãy mở lòng chỉ bảo.
Phùng Hưng vừa dứt lời, đã thấy giữa không trung nổi lên một ánh chớp sáng
lòa. Lập tức, bốn thiên thần đội mũ trụ, cũng cưỡi mây bay xuống. Một vị
nói:
https://thuviensach.vn
- Ngọc Hoàng phái Tiên ông xuống cho Ngài hai báu vật ấy, một làm chuôi
kiếm, một làm quốc ấn. Tác thành như vậy là để Ngài dùng vào việc giữ
nước.
Nói xong, cả bốn thiên thần liền cươic mây bay đi. Anh em Phùng Hưng chỉ
còn biét quỳ xuống bái tạ.
Thế là thhuận lòng trời! Sau lễ tế cáo, ba anh em chế tạo ngay một thanh
kiếm thật sắc, ròi tra vào chuôi được làm từ móng rồng, ở giữa khắc ba chữ
"Thiên linh kiếm". Còn khối ngọc đã sẵn có hình vuông, chỉ khắc vào mấy
chữ là thành quốc ấn. Ba anh gọi đó là "Thiên bảo ấn".
Từ đó, Phùng Mâu ở nhà trông coi công việc trong châu, còn Phùng Hưng và
Phùng Hải chia nhau đi khắp các vùng gần xa, chiêu tập hào kiệt.
Để đánh lạc hướng chú ý giặc, Phùng Hưng đổi tên Cự Lão, Phùng Hải đổi
tên là Cự Lực. Sẵn có sức khỏe hơn người, hai anh em đến các sới vật thường
xuyên tổ chức trong các kỳ lễ hội tại các địa phương, vừa để tham gia mà
cũng vừa là cách tốt nhất để nhận mặt làm quen với các anh tài. Phùng Hưng
xưng là Đô Quân, Phùng Hải xưng là Đô Bảo.
Đi đến đâu hai anh em cũng được mọi người mén mộ. Các tay đô vật ở khắp
các trang ấp đều rất mực phục tài anh em Đô Quân và Đô Bảo, lại vừa nhận
thấy ở họ những tấm lòng thật hào hiệp, quảng đại, nên khi nghe nói tới việc
dựng cờ khởi nghĩa, họ đều nhiệt liệt hưởng ứng và cùng nhau hẹn ngày khởi
sự.
Sau mấy tháng đi khắp các vùng, anh em Phùng Hưng, Phùng Hải trở về nhà.
Nhân ngày húy kỵ ông bố 11 tháng 3, ba anh em làm cỗ thật to, mời tất cả
anh em, họ mạc và dân làng. Lại mời tất cả bạn bè và hàng ngũ chức sắc dưới
quyền trong châu Đường Lâm, đó là các trang ấp trưởng.
Trong bữa cổ, mọi người ăn uống vui vẻ, rồi sau đó bàn sang chuyện khởi
nghĩa. Anh em Phùng Hưng đưa ra "Thiên linh kiếm" và "Thiên bảo ấn". Các
trang ấp trưởng và mọi người đều đặt tay lên ngựa mà và hứa: "Chúng tôi
nguyện xin đem hết tài năng" ...
Ba ngày sau, mấy ngàn dân binh đã được tuuyển mộ. Để Phùng Mâu ở lại
https://thuviensach.vn
trông coi các việc, còn Phùng Hưng, Phùng Hải mượn tiếng là đi tuần thú
trong châu, đã dẫn quân chếch xuống phía nam, đến Thời Trung trang (nay là
làng Chuông, tức xã Phương Trung - Thanh Oai - Hà Tây) thì dừng lại.
Đây là địa điểm thuận lợi cho việc tập luyện, phiên chế quân ngũ, vừa đủ xa
để bọn giặc đóng ở thành Đại La (Hà Nội) không dòm ngó tới, lại vừa đủ gần
để từ đây có thể hành quân bất ngờ tấn công quân địch.
Thời Trung trang cách thành Đại La khoảng ngoài hai chục cây số (theo đơn
vị đo lường chiều dài bây giờ), hành quân nửa ngày là đã lên tới nơi.
Tại đây, như đã hẹn trước, các anh tài khắp nơi mang theo những người cùng
chí hướng, lục tục tìm về. Trong vòng một tuần quân số đã lên tới hàng vạn.
Sau mấy tuần phiên chế và tập luyện, vào đầu mùa Hạ, tháng 4 - 791 (Đường
Trinh Nguyên năm thứ 7), theo kế của Đỗ Anh Luân một danh sĩ cùng người
Đường Lâm, là bạn chơi với Phùng Hưng từ nhỏ, nay là quân sư lo việc bày
binh bố trận- anh em Phùng Hưng, Phùng Hải đã mang quân chia làm hai
ngả, bao vây thành Đại La trong đêm tối.
Cao Chính Bình mặc dù là viên tướng đảm lược, nhưng cũng đành chịu bó
tay thúc thủ trong thành, vì quá bị bất ngờ. Không thể đem quân nống ra
ngoài được, vì các nơi hiểm yếu đã bị chặn giữ, Cao Chính Bình đành phải
cho một vài tên lính lanh lợi, giữa đêm tối tìm cách lẻn ra, đưa thư cấp báo về
nhà Đường, xin tiếp viện.
Ba tháng ròng, thành Đại La bị vây chặt. Các đòan viện binh của nhà Đường
đến đều bị quân của Phùng Hưng đánh tan. Cao Chính Bình hay tin lo lắng
quá thành khối u lớn ở sau lưng. Rồi khối u vỡ, Coa chính Bình rồi cũng chết.
Khi tin Cao Chính Bình chết bay ra ngoài thành, Phùng Hưng hạ lệnh cho
quân lính từ các nơi hiểm yếu, nhất loạt tiến công. Quân nhà Đường chống
không nổi, phải kéo cờ trắng ra hàng.
Phùng Hưng dẫn đại binh vào chiếm Đô hộ phủ trong niềm hân hoan của mọi
người. Tướng sĩ suy tôn ngài là Vi đô Tướng quân.
Vi đô Tướng quân lập tức bắt tay vào việc chấn hưng đất nước và xây thành
https://thuviensach.vn
đắp lũy, luyện tập binh mã, đẻ đối phó với nhà Đường sau này. Ngài chưa
xưng Đế, nhưng thực sự đã điều hành công việc như một vị Hoàng đế. Ngài
mang lại cho muôn dân cảnh no ấm, thái bình, không phải đem lễ vật cống
nạp cho ngoại bang, và các thuần phong mỹ tục trong nước cũng đang được
khôi phục lại.
Nhưng thật tiếc thay, những công việc mà Ngài thực thi đang tiến triển thì
dừng lại, bởi cái chết đến quá đột ngột, vào đúng bảy năm sau tức năm 798,
lúc đó Ngài mới đang ở độ tuổi sung mãn.
Xét về công lao cũng như tài năng, đức độ, nhiều người muốn lập Phùng Hải
lên thay, vì thấy ông xứng đáng nhất. Nhưng một người đầu mục phụ tá cho
Phùng Hưng, và sau này phụ tá cho Phùng An, con trai trưởng của Phùng
Hưng tên là Bồ Phá Cần, không tán thành.
Bồ Phá Cần là người có sức mạnh vô song, nhưng liều lĩnh và thiển cận, một
mực lập Phùng An lên thay, rồi đem quân chống lại Phùng Hải. Không muốn
nhìn thấy cảnh máu chảy đầu rơi, lại cốt nhục tương tàn nên Phùng Hải né
tránh, cùng vài người thân tín, bỏ lên ở động Chu Nham, rồi sống cuộc đời
dân giã cho đến lúc mã chiều xế bóng.
Phùng An nối nghiệp bố, nhưng là người không có đảm lược lớn. Một người
như thế chỉ có thể trị vì đất nước trong cảnh thái bình, còn khi đất nước có
biến động thì sẽ không đảm đương nổi.
Công việc đầu tiên mà Phùng An tiến hành là tổ chức lễ an táng cho cha thật
trọng thể. Sự trọng thể lại càng tăng gấp bội phần, vì tất cả dân chúng và binh
lính đều thực lòng tiếc thương vị anh hùng của mình vừa nằm xuống.
Dân chúng và binh lính đưa tang, khóc Ngài đến đỏ hoe cả hai con mắt. Họ
thương tiếc, gọi Ngài là Bố Cái, tức cha mẹ, theo cách gọi của thời bấy giờ.
Rồi họ lại gọi Ngài là Đại vương, như trước đó vẫn gọi Ngài như thế. Phùng
An con trai Ngài, do cảm nhận được những tình cảm ấy của dân chúng và
binh lính cũng suy tôn Ngài làm "Bố Cái đại vương". Và cái tên ấy còn mãi
đến ngày nay.
Nhưng tiếc thay, Phùng An là người tài hèn trí mọn, không nối được cái chí
của cha, chú. Hai năm sau Đường Đức Tông sai Triệu Xương sang làm An
https://thuviensach.vn
Nam Đô hộ phủ. Xương đi sau, sai sứ giả đem đồ lễ vật đi trước để dụ dỗ An.
An sắp xếp nghi vệ đầy đủ, dẫn quần thần ra hàng.
Những người họ Phùng nhiều chí khí và nhiều người họ khác nữa, thấy vậy,
bèn tản đi các nơi, không muốn ở lại hợp tác với giặc.
Khi Phùng Hưng mất, mộ được táng tại phía tây bắc Kinh thành và được lập
miếu thờ. Ngày nay, ở đầu phố Giảng Võ - Hà Nội, vẫn còn ngôi mộ của
Ngài, trên có văn bia, đề bốn chữ "Phùng Hưng cố lăng". Còn tại quê hương
của Ngài, ngay từ khi Ngài mới mất, dân chúng đã lập miếu thờ. Truớc là để
tỏ lòng nhớ thương, còn sau là để cúng lễ, cầu mong Ngài ban cho mưa thuận
gió hòa, tai qua nạn khỏi hoặc làm ăn phát đạt.
Tất cả đều thấy ứng nghiệm, vì vậy "mỗi khi vào ngày tạ lễ, người đến nhiều
như núi như biển, bánh xe chật đường". Về sau, dân chúng xây dựng
thêm,"miếu maọ nguy nga, lửa hương bất tuyệt"(theo Việt điện u linh).
Đúng 100 năm, sau ngày Ngài mất, cũng tại quê hương của ngài (Đường
Lâm), một người anh hùng nữa đã ra đời. Đó là Ngô Quyền (898 - 944). Sau
khi giết Kiều Công Tiễn trả thù cho bố vợ (Dương Đình Nghệ), Ngô Quyền
xưng vương, rồi đánh tan quân Nam Hán ở cửa sông Bạch Đằng. Trước trận
đó, thấy quân giặc đông, nhả vua cũng có phần lo lắng, nhưng"đêm nằm
mộng, bỗng thấy một ông già tóc bạc, mũ áo nghiêm trang ... xưng là Phùng
Hưng đến cổ vũ và hứa sẽ đem vạn đội thần binh mai phục trước ở chỗ hiểm
yếu" (theo Việt điện u linh).
Sau trận thắng, nhà vua tạ ơn, xuống chiếu lập đền thờ Phùng Hưng ở làng
Cam Lâm to hơn quy môcũ, và tổ chức lễ hội thật trọng thể. Từ đó thành điển
lệ. Các triều đại về sau đều có sắc thượng phong: "Phụ hựu", "Chương tín",
"Sùng nghĩa". Đó là những tên hiệu mà các triều Trần trùng hưng đã tặng
...
 






Các ý kiến mới nhất